PDA

View Full Version : Triển khai Vista



secret-ami
25-06-2008, 10:38 PM
- Phần 1: Tìm hiều về AIK của Windows




Mitch Tulloch
Chu trình CNTT cho một doanh nghiệp điển hình thường gồm các giai đoạn như: lên kế hoạch, kiểm tra, triển khai, cấu hình, bảo trì và khắc phục các sự cố. Các giai đoạn này đều có điểm giống là không quan tâm đến việc bạn đang thực thi các ứng dụng, bộ ứng dụng, các hệ điều hành hay toàn bộ các giải pháp.

Tuy nhiên trong đó phần quan trọng của chu trình này chính là giai đoạn triển khai, đây là giai đoạn có liên quan đến bất cứ thứ gì từ việc lấy ra một DVD trong hộp đến cài đặt các thứ khác hay tự động triển khai một ứng dụng hoặc một hệ điều hành cho hàng nghìn desktop tại nhiều vị trí khác nhau.

Trước đây, việc triển khai Microsoft Windows cho một số lượng lớn các máy tính thường là một trong ba thứ: chuẩn bị cùng một giải pháp triển khai tự động bằng sử dụng các phần mềm khởi động mạng của MS- DOS, các file unattend.txt, cmdlines.txt, các file .ini và .inf ; sử dụng Remote Installation Services (RIS), một giải pháp triển khai dựa trên máy chủ đã được giới thiệu đầu tiên trong Windows 2000 Server; hoặc mua một image đĩa của nhóm thứ ba. Rõ ràng, nếu bạn là một khách hàng có đăng ký bản quyền của Microsoft Software Assurance (SA) hoặc OEM thì bắt đầu với Windows XP bạn cũng có thể sử dụng một công cụ khác, Windows Preinstallation Environment (Windows PE), công cụ cho phép có thể vứt bỏ các đĩa khởi động MS-DOS. Dù thế nào đi chăng nữa, với hầu hết thời gian và ngân sách thì các quản trị viên thường chọn phương pháp thứ ba, đặc biệt nếu họ phải cài đặt nhiều máy tính, còn một số doanh nghiệp cỡ lớn thường triển khai RIS, hầu hết các doanh nghiệp có kích thước vừa và nhỏ (SMBs) lại thích các giải pháp image đĩa của nhóm thứ ba như Ghost. Trong thực tế, từ “ghosting” trở thành nghĩa “deploying” – triển khai đối với nhiều quản trị viên Windows.

Mặc dù vậy với Windows Vista, những gì trước kia nay đã được thay đổi khi Vista có một số công cụ cho việc chuẩn bị, capture cũng như bảo quản các image đĩa và sau đó triển khai chúng dưới một cách không dự định cho các hệ thống thiết bị căn bản. Một số các công cụ triển khai (như Sysprep.exe) có trong bản thân hệ điều hành này; một số công cụ khác được cung cấp từ Microsoft Download Center với tư cách là một download miễn phí; ngoài ra còn các công cụ khác như Windows Deployment Services (Windows DS), công cụ có nhiều ưu điểm hơn RIS được cung cấp với tư cách là một role mà bạn có thể bổ sung vào Windows Server 2008. Bổ sung thêm vào các công cụ này, Microsoft cũng đã phát triển một bộ các công cụ, kịch bản và tài liệu Solution Accelerator (SA) – dành cho một số những vấn đề phức tạp bên ngoài vấn đề triển khai Windows. Phiên bản đầu tiên của bộ công cụ này có tên gọi là Solution Accelerator for Business Desktop Deployment 2007, hay viết tắt là BDD 2007.

Phiên bản mới của BDD 2007 có tên gọi Microsoft Deployment cũng đã được phát hành, một phương pháp khôn ngoan là trước tiên chúng ta hãy trở nên thân thiện với Windows AIK (Windows Automated Installation Kit) và Windows DS. Lý do cho điều này rất đơn giản - Microsoft Deployment được xây dựng trên nền của Windows AIK và các công cụ quan trọng khác như User State Migration Tool và Application Compatibility Toolkit. Biết cách các công cụ nền tảng này làm việc như thế nào một cách chi tiết sẽ giúp bạn dễ dàng sử dụng Microsoft Deployment hơn nhiều – đặc biệt khi bạn phải khắc phục một số sự cố vấn đề triển khai. Vì lý do đó mà ở loạt bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số thông tin chi tiết trong vấn đề sử dụng các công cụ của Windows AIK và cũng giới thiệu nhiều cách khác nhau trong việc thực hiện triển khai Windows theo image. Sau đó khi có được nền tảng kiến thức tốt về những thứ ở trên, chúng tôi sẽ chuyển sang và xem xét cách Microsoft Deployment có thể đơn giản hóa các nhiệm vụ triển khai của bạn như thế nào.

Lưu ý:
Bài này tập trung vào việc triển khai Vista, nhưng một số nội dung sẽ rất hữu dụng cho việc triển khai Windows Server 2008, và để thuận tiện cho vấn đề này, các bài sẽ tập trung vào phiên bản 1.1 của Windows AIK, vì đây là phiên bản sẽ được phát hành cùng với Windows Vista Service Pack 1 và Windows Server 2008. Các bạn cũng cần lưu ý rằng việc triên khai các phiên bản trước Vista của Windows sẽ không được giới thiệu đến trong các bài này.

Windows AIK gồm những gì

Windows AIK gồm có các công cụ, tài liệu và mẫu cho phép các quản trị viên có thể thực hiện triển khai một cách tự động dòng sản phẩm Windows Vista và Windows Server 2008 của các nền tảng hệ điều hành. Windows AIK 1.1 có thể được sử dụng để triển khai Windows Vista RTM, Windows Vista SP1, và Windows Server 2008. Để sử dụng Windows AIK, trước tiên bạn phải có nó. Phiên bản 1.0 được cung cấp thông qua Microsoft Download Center (http://www.microsoft.com/downloads/details.aspx?FamilyID=c7d4bc6d-15f3-4284-9123-679830d629f2&displaylang=en); cũng tại thời điểm này, phiên bản 1.1 vẫn đang trong giai đoạn triển khai và có thể được cung cấp trên Microsoft Connect (http://connect.microsoft.com/) nếu bạn có chương trình thử nghiệm Windows Server 2008.

Để sử dụng Windows AIK, bạn trước tiên cần cài đặt nó trên một máy tính kỹ thuật viên, máy tính này chính là máy tính sẽ sử dụng để tạo các file trả lời, xây dựng các tập cấu hình, tùy chỉnh image của Windows PE,…. Máy tính kỹ thuật viên của bạn không cần thiết phải chạy Windows Vista hoặc Windows Server 2008 – mà có thể sử dụng Windows XP hoặc Windows Server 2003 nếu muốn. Tuy nhiên máy tính này cần có cài đặt .NET Framework 2.0 và MSXML 6.0, nhưng bạn có thể cài đặt chúng trực tiếp từ màn hình của Windows AIK trước khi cài đặt bản thân Windows AIK

(hình 1).

[/URL]http://www.quantrimang.com/photos/image/032008/03/Windows-AIK-1.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/032008/03/Windows-AIK-1.jpg)
Hình 1: Màn hình cho phép cài đặt của Windows AIK
Mẹo nhỏ:
Nếu bạn có kế hoạch xây dựng các image Windows PE một cách tùy chỉnh thì máy tính của bạn nên có một DVD burner và một phần mềm ghi đĩa của nhóm thứ ba.

Sau khi cài đặt Windows AIK trên máy tính, bạn sẽ có thể sử dụng các công cụ dưới đây:


Windows System Image Manager (Windows SIM), đây là công cụ được sử dụng để tạo các file trả lời XML và cung cấp sự chia sẻ.
ImageX, một công cụ dòng lệnh dành cho việc capture, bảo quản và áp dụng các file Windows Imaging Format (WIM), đây là các image đĩa của Windows được sử dụng bởi Windows Vista.
PEimg.exe, một công cụ dòng lệnh dành cho vấn đề tạo, thay đổi các image của Windows PE 2.1 một cách offline.
Package Manager (Pkgmgr.exe), một công cụ dòng lệnh cho việc bảo quản các image của Windows một cách offline.
Các công cụ dòng lệnh khác như BCDEdit, Bootsect, DiskPart, Drvload,… có thể được sử dụng để tự động hóa các khía cạnh khác nhau trong triển khai.

Thêm vào đó, Windows Vista và Windows Server 2008 cũng có Sysprep.exe, System Preparation Tool, những công cụ này được sử dụng để chuẩn bị một image đĩa bằng cách gỡ bỏ các thông tin cụ thể của máy như SIDs và cũng cho nhiều mục đích khác như bổ sung thêm các driver thiết bị cho cài đặt Windows đang tồn tại bằng sử dụng chế độ Audit.

Khi Windows AIK được cài đặt trên máy tính kỹ thuật viên, nó sẽ tạo một cấu trúc thư mục giống như trong hình 2 bên dưới. Sau khi đã cài đặt Windows AIK, bạn nên khám phá các nội dung bên trong của cây thư mục này vì có rất nhiều tài liệu bổ ích cũng như các file mẫu để minh chứng cách công cụ này có thể được sử dụng nhằm mục đích triển khai Windows như thế nào.


[URL="http://www.quantrimang.com/photos/image/032008/03/Windows-AIK-2.jpg"]http://www.quantrimang.com/photos/image/032008/03/Windows-AIK-2.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/032008/03/Windows-AIK-2.jpg)
Hình 2: Cấu trúc thư mục trong %PROGRAMFILES%\Windows AIK
Hướng dẫn nhanh về những thay đổi trong các công cụ cũng như kỹ thuật triển khai của Vista

Trong các bài sau của loạt bài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào cách sử dụng mỗi công cụ này, nhưng trước khi bắt đầu điều đó, chúng tôi sẽ giới thiệu một số thứ có liên quan đến cách các công cụ triển khai và các kỹ thuật đã thay đổi trong Vista như thế nào. Ở đây đang thừa nhận rằng bạn hoàn toàn đã quen thuộc với các công cụ chuẩn của Microsoft và các kỹ thuật của hãng đã được sử dụng để triển khai Windows. Và dưới đây là hướng dẫn vắn tắt về những thứ đã được thay đổi như thế nào trong Windows Vista và phiên bản sau:

Công cụ và kỹ thuật Trước Vista Vista và phiên bản sau
Sysprep.exe Tìm thấy trong Deploy.cab trên sản phẩm Core Duo Tìm thấy trong thư mục %WINDIR%\System32\Syspr
Công cụ image đĩa Không có (sử dụng Ghost hoặc một số sản phẩm nhóm thứ ba) ImageX (có trong Windows AIK)

Công cụ tạo các file trả lời Setup Manager (trong Deploy.cab) Windows SIM (có trong Windows AIK)

Định dạng file trả lời File văn bản với các phần và các tham số key=value File XML
Số của các file trả lời

Vô số, có nghĩa unattend.txt, winnt.sif, sysprep.inf, winborn.ini, oobeinfo.ini,…
Chỉ có hai: unattend.xml và (tùy chọn) oobe.xml

Cách chạy các lệnh bổ sung trong quá trình cài đặt Liệt kê chúng trong cmdlines.txt và sử dụng thư mục $OEM$ để cung cấp vấn đề chia sẻ Sử dụng RunAsynchronous hoặc RunSynchronous trong unattend.xml

Cách chạy các lệnh bổ sung sau logo đầu tiên Sử dụng phần [GuiRunOnce] của unattend.txt Sử dụng FirstLogonCommands trong unattend.xml

Cách cung cấp các file bổ sung cho cài đặt Sử dụng các thư mục $OEM$ và các thư mục con khác bên dưới Sử dụng ImageX để tạo image dữ liệu

secret-ami
25-06-2008, 10:46 PM
Phần 2: Tìm hiểu về Windows Setup và Windows Imaging File Format






Mitch Tulloch
Để hiểu được cách triển khai Windows Vista, bạn cần phải biết chút ít về khái niệm triển khai cũng như các kỹ thuật và công cụ có liên quan tới việc triển khai này. Trong phần đầu của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu một quan sát vắn tắt về Windows AIK và bên trong nó gồm những gì.



Bắt đầu từ bài này, bạn sẽ xây dựng những hiểu biết của mình về những thành phần quan trọng như Windows Setup và Windows Imaging File Format (các chủ đề của bài này) và tiếp đến là cấu hình khác của Windows Setup (chủ đề cho phần tiếp theo). Sau đó chúng ta sẽ nghiên cứu cách sử dụng các công cụ như Windows System Image Manager (Windows SIM), Windows Preinstallation Environment (Windows PE), System Preparation Tool (Sysprep), ImageX và Windows Deployment Services (Windows DS) để thực hiện một cách thành công các triển khai – thêm nữa chúng tôi cũng sẽ giới thiệu cách sử dụng Microsoft Deployment Toolkit 2008 (MDT 2008).

Chúng ta hãy bắt đầu với thành phần Windows Setup (Setup.exe), đây là một chương trình được sử dụng để cài đặt Windows trên mỗi một máy tính. Sử dụng chương trình này, bạn có thể thực hiện những cài đặt mới một máy tính mới; hay nâng cấp các phiên bản trước đó của Microsoft Windows; và các cài đặt tự động khác (hands-off). Bạn có thể chạy Windows Setup trực tiếp từ DVD Vista, từ một DVD Vista custom-made cùng với một file giải đáp, trên mạng từ một điểm chia sẻ dùng chung.

Những gì đáng kể cũng như mới với Vista là Windows Setup của nó hiện sử dụng Image-Based Setup (IBS), đây là một công nghệ image đĩa dựa trên file sử dụng các file Image (.wim) của Windows dựa trên định dạng file Windows Imaging (WIM). Một file .wim gồm có một hoặc nhiều image ổ đĩa của hệ điều hành Windows Vista hay Windows Server 2008 (một image ổ đĩa là những gì bạn có được khi capture một ổ đĩa mà Vista hoặc W2k8 đã được cài đặt rồi) và bạn có thể thực hiện các hành động khác trên các file .wim này bằng các công cụ như ImageX, Package Manager… các công cụ mà chúng ta sẽ thảo luận đến trong loạt bài này.

Nếu mở Vista DVD trong Windows Explorer, bạn sẽ thấy có hai file .wim này nằm trong thư mục \Sources (xem trong hình 1):

http://www.quantrimang.com/photos/image/042008/14/DVD-vista.jpg
Hình 1: Các file Boot.wim và Install.wim trong thư mục \Sources nằm trong đĩa Vista DVD
Ở đây, file boot.wim là một image khởi động (boot image) mặc định còn file install.wim là image cài đặt (install image) mặc định. Giải thích về một số thuật ngữ.


Boot image là một image mà bạn có thể sử dụng để khởi động hệ thống hoàn toàn mới tinh để bắt đầu quá trình cài đặt Windows.

Install image là một image đựợc capture hệ điều hành Windows Vista hoặc Windows Server 2008 đã được cài đặt để áp dụng vào hệ thống.


Chúng ta hãy làm sáng tỏ hơn vấn đề này: bạn sử dụng boot image để bắt đầu quá trình cài đặt, và khi quá trình cài đặt đang thực hiện thì nó sẽ sử dụng install image vào cho hệ thống mà bạn đang cài đặt Windows. Đây chính là lý do tại sao hình 1 ở trên lại có file install.wim có kích thước lớn hơn boot.wim. Rõ ràng cả hai image này đều có thể được tùy chỉnh theo nhiều cách khác nhau, ví dụ như bằng cách bổ sung thêm các ổ đĩa cần thiết để hỗ trợ cho phần cứng của hệ thống. Chúng tôi sẽ đề cập đến chủ đề này sau.

Công nghệ định dạng file WIM có một số ưu điểm lớn so với các công nghệ Windows Setup trước đây, cụ thể là:


Bạn có thể cài Vista trên bất kỳ phần cứng nào (miễn là đúng kiến trúc như x86 hoặc x64) vì các file .wim là hoàn toàn không phụ thuộc phần cứng.


Bạn có thể nhận được dịch vụ file .wim offline, điều đó có nghĩa là có thể dễ dàng bổ sung thêm các driver hoặc nâng cấp cho một image trước khi sử dụng nó để triển khai Windows.


Bạn có thể có nhiều image của hệ điều hành bên trong một file .wim. Ví dụ, một Vista DVD bán lẻ có thể có tất cả các thành phần Vista Basic, Vista Home Premium, Vista Business và Vista Ultimate được lưu trong một file install.wim (khóa sản phẩm của bạn sẽ chỉ ra phiên bản Vista nào được cài đặt). Điều này là vì WIM sử dụng công nghệ nén file và lưu trữ single-instance để giảm không gian cần thiết trong việc thực hiện nhiệm vụ này.


Chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề sử dụng hai image này trong một bài khác trong loạt bài này, lúc này hãy quay trở về với Windows Setup và xem phần tiếp theo của quá trình này làm việc như thế nào. Chúng tôi sẽ tập trung làm sáng tỏ các cài đặt thay vì nâng cấp như hầu hết các doanh nghiệp sử dụng trước đây khi triển khai Windows trên các máy tính khách của họ.

Ba giai đoạn của Windows Setup

Windows Setup trong Vista diễn ra theo ba giai đoạn dưới đây:

Giai đoạn 1: Windows PE. Trong giai đoạn này, bạn sẽ cấu hình cách Windows cài đặt như thế nào trên hệ thống của mình, có thể chỉ định các thông tin một cách thủ công khi được nhắc nhở hoặc cung cấp các thông tin đó một cách tự động bằng một hoặc một số file giải đáp. Các thông tin mà bạn cần chỉ định ở giai đoạn này gồm có Language (ngôn ngữ), Time and Currency format (định dạng thời gian và tiền tệ), Keyboard or Input Method (bàn phím và phương thức đầu vào), khóa sản phẩm (có thể không cần khi sử dụng phương tiện đã được đăng ký ấn bản), sự chấp thuận EULA của bạn, partition mà bạn muốn cài đặt Vista…. Khi các thông tin này đã được cung cấp (thủ công hoặc bằng các file giải đáp) thì giai đoạn Windows PE của Windows Setup sẽ tiếp tục bằng việc cấu hình ổ đĩa, copy file install.wim vào ổ, tạo các file cần để Windows khởi động và xử lý các thiết lập file giải đáp trong cấu hình offlineServicing (nếu có). Điều này có vẻ hơi khó hiểu đôi chút, nhưng bạn hãy kiên nhẫn vì chúng tôi sẽ giải thích cách cấu hình trong phần tiếp theo. Dù sao, khi tất cả đã được thực hiện thì giai đoạn Windows PE sẽ kết thúc và giai đoạn kế tiếp có thể được bắt đầu.

Giai đoạn 2: Online Configuration. Trong suốt giai đoạn kế tiếp này Setup sẽ thực hiện các hành động cấu hình để làm cho cài đặt Windows mới này là duy nhất, như tạo Security Identifiers (SIDs) duy nhất cho máy tính và các tài khoản người dùng,…

Giai đoạn 3: Windows Welcome. Giai đoạn 3 hay giai đoạn cuối cùng của Windows Setup thực hiện các hành động để chuẩn bị cho hệ điều hành có thể được sử dụng bởi người dùng. Các hành động này gồm có (theo một cách thứ tự) xử lý các thiết lập file giải đáp trong cấu hình oobeSystem (nếu có), xử lý file giải đáp Oobe.xml (nếu có một file nào đó như vậy – chúng tôi sẽ giải thích về file này trong các bài sau), khởi chạy Windows Welcome trên máy tính. Windows Welcome đôi khi cũng được biết đến như là Machine Out-Of-Box-Experience (Machine OOBE), nó chính là những gì mà người dùng thấy khi Windows khởi động lần đầu tiên trên máy tính của họ. Người dùng sẽ lần lượt đi qua các màn hình Windows Welcome của Windows và có thể thực hiện các tùy chỉnh cuối cùng như tạo tài khoản bổ sung cho máy tính. Bạn có thể bỏ qua Windows Welcome nếu thích khởi động Windows trong chế độ kiểm định, đây là chế độ cho phép bạn thực hiện các tùy chỉnh bổ sung như thêm vào các driver và cài đặt các ứng dụng. Chúng tôi sẽ nói về chế độ này trong phần sau khi chúng tra xem xét đến các giai đoạn trình để triển khai thành công Windows trong các môi trường doanh nghiệp.

Trong phần này các bạn đã hiểu đôi chút về những gì diễn ra khi Windows Setup hoạt động. Chúng tôi sẽ tiếp tục trong phần tiếp theo bằng cách nghiên cứu các cấu hình khác nhau được sử dụng bởi Setup.






Văn Linh (Theo WindowsNetworking)

secret-ami
02-07-2008, 02:16 PM
“Thuần hóa” UAC của Microsoft Windows Vista

http://quantrimang.com/MetaNET_ad/glass.gif (http://adrealclick.com/click/?ad=98&cust=vietnamlearning.com.vn&pos=91&url=http://www.vietnamlearning.com.vn/thongtin/ccna.html)



Tất cả các cảnh báo của Windows Vista User Account Control có đang làm bạn phát điên hay không? Sau đây là 7 cách khiến UAC của Vista ít xâm phạm hơn mà vẫn tránh xa được hiểm nguy an ninh.

Liệu có tính năng nào của Microsoft Windows Vista gây bực tức trên toàn cầu hơn User Account Control, tức UAC viết rút gọn, hay không? Trong điều kiện cần thiết nó vô cùng hữu ích nhưng khi ngược lại nó trở thành sự bất tiện không thể chịu nổi.

Hay nhìn theo một quan điểm ôn hòa hơn, nó là một tính năng đôi lúc cũng tối cần thiết với Windows – một cách để kiểm soát quyền truy cập tài khoản người dùng quản trị để những chương trình không có quyền truy cập quản trị không nhận được nó.

Chúng tôi theo quan điểm thứ 2, ngoài việc phá vỡ nhiều thói quen làm việc hiện hành, cũng có nhiều câu hỏi xung quanh cách hoạt động, hoặc phải hoạt động như thế nào, của nhiều chương trình dưới sự điều khiển của UAC.

Giải pháp hấp dẫn ở đây là tắt UAC đi và xem như xong, nhưng đây không phải là giải pháp xác đáng. Sẽ có những lần bạn muốn sự bảo vệ của UAC và có nhiều cách bạn biến UAC thân thiện hơn là xâm chiếm. Hợp tác với nó hơn là chống lại nó, và bạn sẽ thấy ngạc nhiên thú vị là nó dễ điều khiển đến mức nào.

1. Xung đột quyền quản trị

Điều quan trọng đầu tiên cần được nói đến là trong trường hợp nào hộp thoại của UAC nên và không nên xuất hiện. Nhiều người than phiền rằng UAC quấy rầy họ ngay khi đó dường như chỉ là một hành động hệ thống hoàn toàn bình thường, như mở một file hoặc copy một thứ gì đó sang một nơi khác. Đây không phải là cách làm việc hợp lý của UAC, vì vậy sau đây là bài phân tích nhanh khi nào bạn nên và không nên nhận những câu lệnh của UAC.

http://quantrimang.com/photos/image/062008/28/1Incorrectpermissions.jpg
UAC có thể khởi động không cần thiết nếu các điều khoản
của bạn được thiết lập không chính xác.
Đầu tiên, UAC nên khởi sự bất cứ khi nào bạn click vào một biểu tượng hoặc hộp thoại Windows có biểu tượng hình cái khiên (shield). Logo này được tạo ra làm lời chú thích bằng hình ảnh rằng bất cứ hành động có liên quan đến nó sẽ phải có sự chấp thuận của UAC, một dạng cảnh báo trước cho người dùng. Những hành động này bao gồm những thứ như bộ cài đặt ứng dụng, thứ rõ ràng cần phải có sự cho phép của quản trị (admin) để hoạt động. Có lẽ giờ bạn sẽ thấy các biểu tượng cài đặt ứng dụng sẽ được trang trí thêm biểu tượng hình khiên; đó chính là chỉ thị cần sự chấp thuận của UAC để chạy chúng.

UAC không nên bật ra khi bạn mở những tài liệu trong thư mục người dùng, khi truy cập vào những tài liệu trên một ổ đĩa khác mà bạn biết là của mình, hoặc khi chạy những chương trình bình thường như Office hoặc Firefox mà không cần quyền quản trị để hoạt động đúng. Nếu điều này xảy ra, có khả năng cao là điều khiển sự cho phép trên những file đó bị hỏng hoặc thiết lập sai.

Trường hợp này thường xảy ra khi làm việc với những file trên ổ cứng được di chuyển từ một máy tính khác, ví dụ như máy chạy Windows phiên bản trước đó. Một ổ cứng định dạng FAT hoặc FAT32 thường không hiển thị những vấn đề đó vì những hệ thống file này không cần đến sự cho phép, nhưng ổ cứng định dạng NTFS có thể có quyền sở hữu trên file và thư mục thuộc về một user nào đó chứ không phải hệ thống hiện tại của bạn. Kết quả là, bất kỳ hoạt động file nào trên ổ đấy cũng phải thực hiện dưới chế độ admin, mà có khi vẫn thất bại.

Giải pháp: thu lại quyền sở hữu

Giải pháp ở đây là lấy lại quyền sở hữu tất cả mọi thứ trên ổ, dù bạn là user hiện tại hay là một quản trị viên. Điều này có thể được thực hiện thông qua GUI, nhưng thường sẽ nhanh hơn và linh hoạt hơn nếu thực hiện thông qua cửa sổ lệnh. Nếu ổ E: là ổ có vấn đề, bạn có thể dùng lệnh ICACLS, ví dụ như:

Icacls e:\* /setowner Administrators /T /C
Nên nhớ rằng lệnh này mất một lúc mới hoàn tất, vì nó lặp đi lặp lại trên từng đối tượng trong hệ thống file và áp dụng thay đổi về bảo mật. Có thể bạn cũng sẽ muốn tự động gỡ bỏ Recycle Bin ra khỏi ổ này sau khi thực hiện xong, vì nó sẽ không hoạt động chính xác sau khi thay đổi các điều khoản hoặc quyền sở hữu. Điều này cũng thực hiện được từ cửa sổ lệnh:

attrib -s -h e:\RECYCLER
rd /s e:\RECYCLER
(vẫn giả định thực hiện trên ổ e:)
Recycle Bin của ổ này sẽ được tái tạo tự động lần kế tiếp bạn khởi động lại hệ thống. Có thể bạn cần phải gán các điều khoảncho ổ đĩa này để có thể truy cập vào tất cả mọi thứ trong nó, nhưng quyền sở hữu đã là mức cao nhất.

2. Sử dụng Process Explorer

Bây giờ đến câu hỏi kế tiếp: Liệu có thể khởi động những chương trình nhất định mà không phải đối phó với các lệnh UAC không? Câu trả lời ngắn gọn là có, mặc dù có “nhiều con đường dẫn đến thành Rome”. Con đường chính xác mà bạn sẽ đi tùy thuộc vào thói quen làm việc và bạn muốn chỉnh sửa nó đến mức nào.

http://quantrimang.com/photos/image/062008/28/2processexplorer.jpg
Chạy Process Explorer với quyền admin sẽ cho phép bạn khởi chạy
những chương trình khác với đặc quyền quản trị
Cách tránh UAC của chúng tôi là chạy chương trình Process Explorer của Sysinternals.com thay thế cho Task Manager. Khi bạn dùng PE với tùy chọn dòng lệnh /T, nó sẽ tự khởi động chương trình với tư cách Administrator. Đặt shortcut tới PE trong trong nhóm Startup và sau khi đăng nhập bạn sẽ gặp nhắc nhở của UAC để chạy chương trình với quyền quản trị.

Vậy giải pháp nằm ở đâu? Khi PE khởi động với quyền admin, một trong những điều bạn có thể thực hiện là dùng nó để mở những chương trình khác cũng với quyền admin. Hãy thực hiệnđiều này thông qua hộp thoại File/Run của chương trình, nó cũng có chức năng History và có thể được sử dụng để lưu những nhiệm vụ admin phổ biến, như mở một phiên CMD hoặc chạy COMPMGMT.MSC /S (bảng điều khiển Computer Management). Tất cả những chương trình đó sẽ chạy với quyền admin mà không vướng hộp thoại của UAC.

Dĩ nhiên PE không phải là chương trình duy nhất có thể sử dụng theo hướng này để khởi chạy các chương trình khác cũng với quyền admin, mà nó là một trong những chương trình tốt hơn vì nhiều lý do – chí ít nó đã được viết để thay thế cho một thành phần của hệ thống, chính vì vậy nó là một phần mã tin cậy mà không ảnh hưởng gì đến bạn.

Phương pháp này có một số hạn chế, phần lớn trong số này là những gì liên quan đến sự thoải mái cho người dùng. Hạn chế lớn nhất là tốn nhiều công sức: muốn khởi chạy PE bạn cần phải mở nó từ khay hệ thống (hoặc bằng cách nhấn Ctrl – Shift – Esc), sau đó mở menu Run (Ctrl – R) và gõ thứ bạn đang tìm kiếm hoặc kéo xuống để tìm. Nó sẽ tốt đẹp nếu (a) bạn để PE chạy liên tục; (b) bạn cần phải chạy một chương trình với quyền admin.

Chính vì vậy bạn có thể cảm thấy hẳn phải có một cách tốt hơn để thực hiện điều này, và thực sự là có vài cách.

3. Lên lịch cho một nhiệm vụ chạy với quyền quản trị

Cách duy nhất để tránh UAC là khởi động một chương trình với quyền admin thông qua Task Scheduler. Vì bạn không thể khởi động Task Scheduler và thêm vào một nhiệm vụ quyền admin nếu không phải là admin (và không phải thông qua UAC) ngay từ ban đầu, tuy nhiên điều này không phải là lỗ hổng. Những thông tin admin cần thiết được lưu cùng với bản thân nhiệm vụ.

Khi được thiết lập, nó có thể được dùng để chạy những nhiệm vụ riêng lẻ (an toàn hơn) hoặc như một framework để khởi chạy những nhiệm vụ quản trị (hơi ít an toàn hơn, nhưng tiện lợi hơn).

Sau đây là một ví dụ cách tạo một nhắc lệnh quản trị theo cách này.

http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/28/3scheduler1.jpg
Task Manager có thể tránh UAC. Chỉ cần chọn “Run with highest privileges”
1. Truy cập với tài khoản quản trị và khởi động Task Scheduler. Một cách nhanh chóng là gõ sched trong menu Start, sau đó nhấn vào Task Scheduler khi nó xuất hiện. Nó cũng có sẵn trong Control Panel, dưới mục “Schedule tasks” ở bảng bên trái theo cách hiển thị chuẩn, hoặc trong Administrative Tools theo hiển thị Classic.

2. Tạo một nhiệm vụ mới bằng cách nhấn “Create Task” trong bảng Actions (“Create Basic Task” có thể không đưa ra hết các tùy chọn mà bạn cần.)

3. Trong thẻ General, đặt tên cho task. “Admin” sẽ hoạt động tốt. Bất kỳ tên nào cũng được miễn là bạn thấy dễ nhớ; vì bạn sẽ cần nó sau này. Chọn hộp chọn “Run with highest privileges”.

4. Trong thẻ Actions, chọn “New” và chọn “Start a program”. Đưa đường dẫn đến chương trình bạn muốn chạy với quyền admin. Trong trường hợp này là cmd.exe. Chọn OK và thêm hành động đó vào danh sách.

5. Trong thẻ Conditions, bỏ chọn tất cả các tùy chọn đưa ra.

6. Trong thẻ Settings, bỏ chọn tất cả các tùy chọn đưa ra, trừ “Allow task to be run on demand”.

http://quantrimang.com/photos/image/062008/28/4scheduler2.jpg
7. Chọn OK và thêm vào nhiệm vụ được lên lịch.

8. Để chạy nhiệm vụ, tạo một shortcut dẫn đến vị trí sau

C:\Windows\System32\schtasks.exe /run /tn ""
(tên nhiệm vụ) là tên bạn chọn trong bước 3. Cần phải có dấu trích dẫn (“”) xung quanh tên. Bạn có thể đặt một icon để nhấn mạnh đây là một hoạt động quyền admin.

9. Khởi động shortcut. Bạn sẽ thấy xuất hiện một cửa sổ CMD với dòng chữ Administrator: taskeng.exe ở thanh tiêu đề.

Một trong những mẹo mà bạn nên làm trên cửa sổ CMD admin là đặt màu nền cửa sổ thành màu đỏ thẫm để có thể liếc qua mà vẫn phân biệt được liệu đang gõ vào một cửa sổ lệnh admin hay cửa sổ thường. Để thực hiện điều này, khởi động cửa sổ CMD, nhấn Alt – Space để mở menu của cửa sổ, và chọn Properties. Dưới mục “Colors”, chọn bộ màu bạn muốn sử dụng cho cửa sổ admin, nhấn OK.

Phương pháp tương tự cũng được sử dụng để khởi động trường hợp “nâng cao” của Explorer. Sử dụng explorer/separate để mở Explorer trong một trường hợp riêng– nếu không nó sẽ khởi động như một cửa sổ lệnh thường khác chứ không phải “nâng cao”. (Cẩn thận với những trường hợp Explorer nâng cao, vì bạn có khả năng làm rối tung hoàn toàn mọi thứ lên theo cách này.)

http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/28/5cmdinstance.jpg
Thêm nữa, nếu bạn khởi động trường hợp Explorer “nâng cao”, hãy nhớ rằng bạn không thể sao chép hoặc di chuyển file giữa các trường hợp “nâng cao” và không nâng cao của Explorer. Ví dụ, nếu bạn thử sao chép vào hoặc ra khỏi thư mục Windows, khởi động chương trình Explorer như trên và nhấn Ctrl-N để mở một cửa sổ thứ 2 từ trường hợp trên để có thể sao chép giữa chúng với nhau.

Một ứng dụng khác cho Task Scheduler

Cũng có thể dùng Task Scheduler để mở một ứng dụng với quyền quản trị. Hơn nữa, vốn đã có một ví dụ bằng chứng về việc thực hiện điều này như thế nào, và đó là bằng chứng điều đó tiện lợi như thế nào.

Có một số hướng dẫn về cách sử dụng Task Scheduler để tạo ra một tập lệnh có thể được dùng để chạy bất cứ thứ gì mà không cần lệnh UAC, bằng một menu ngữ cảnh chuột phải.

SkipUAC, đây là chương trình sử dụng cả nhiệm vụ lịch biểu và ứng dụng chạy trên nhiệm vụ để đạt được thành tích của nó. Nên nhớ rằng bạn phải có khả năng chạy các nhiệm vụ với quyền admin để cài đặt chương trình này ngay từ bước đầu, và chất lượng của toàn bộ điều này là khá tốt – nó được dành cho những người thực sự biết họ đang làm gì.

4.Sử dụng “Chế độ im lặng” của UAC

Một trong những tính năng của UAC mà ít được ghi nhận rộng rãi là “quiet mode” (chế độ im lặng), điều giúp cho sự nâng cao UAC có thể được cài đặt diễn ra câm lặng mà không cần sự đồng ý của người dùng. Những chương trình cần “nâng cao” vẫn chạy trong tình trạng bảo mật riêng biệt, và người dùng vẫn chạy chế độ mặc định với quyền ưu tiên giảm.

http://quantrimang.com/photos/image/062008/28/6tweakUAC.jpg
TweakUAC có thể được dùng để bật/tắt UAC, hoặc khiến nó làm việc im lặng
Chế độ im lặng không được đặt sẵn mặc định qua bản điều khiển UAC Vista, có lẽ bởi vì có khả năng nó sẽ bị lạm dụng. Bật lên và những chương trình đòi quyền ưu tiên từ hệ thống có thể chạy mà không cần sự đồng ý đặc biệt của người dùng. Tuy nhiên, nó vẫn là một cách hữu dụng để tạm thời tăng tốc một số hoạt động đòi quyền nâng cao nếu bạn không sử dụng trình tiện ích nâng cao.

Để bật chế độ im lặng bằng tay, bạn sẽ cần chỉnh sửa Registry (một hành động UAC). Đặt các giá trị DWORD:

HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft (NSDQ: MSFT)\
Windows\CurrentVersion\Policies\System\
ConsentPromptBehaviorAdmin


HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\
CurrentVersion\Policies\System\ConsentPromptBehavi orUser
Về 0 (mặc định là 2). Bạn có thể sẽ cần làm mới policy sau đó, bằng cách sử dụng lệnh gpupdate từ một nhắc lệnh nâng cao.

Một cách khác để bật chế độ im lặng là sử dụng một phần mềm freeware của các hãng thứ ba, TweakUAC. TweakUAC cho phép bạn tắt UAC hoàn toàn (đòi phải reboot), tái kích hoạt và đưa nó vào chế độ im lặng theo yêu cầu.

5. Tắt Secure Desktop

Một trong những tính năng – hoặc nỗi phiền toái, tùy thuộc vào quan điểm – của UAC là cách UAC bật lên được khởi động trên một màn hình an toàn, và tách biệt hoàn toàn. Đó là lý do vì sao màn hình tối đi trong vòng một giây và lệnh của UAC xuất hiện trên phiên bản xám xịt của màn hình (nghĩa là bạn không thể thao tác được nữa). Điều này ngăn cản tất cả mọi thứ trừ bạn, người dùng, thao tác trực tiếp với lệnh của UAC, vì vậy một chương trình độc hại không thể kích hoạt UAC mạo danh bạn.

http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/28/7securedesktopoff.jpg
Điều Secure Desktop làm phiền mọi người nhất là mất vài giây để quay trở lại, đặc biệt khi bạn đang sử dụng một máy tính không có phần cứng video nhanh nhất hoặc không sử dụng giao diện Aero.

Có thể vô hiệu hóa Secure Desktop và khiến lệnh UAC biến mất nhanh hơn trên màn hình chính. Để đối phó với Secure Desktop, chỉnh sửa Registry và đặt giá trị DWORD:

i>HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Policies\
System\PromptOnSecureDesktop
Đặt về 1 để bật Secure Desktop và 0 để tắt nó. Bạn có lẽ sẽ cần chạy gpupdate/force sau khi thực hiện để chắc chắn thay đổi có hiệu lực.

Nếu bạn không thoải mái với ý tưởng hy sinh về độ an toàn quá nhiều chỉ vì tốc độ nhanh hơn một chút, đừng tắt Secure Desktop; bạn có thể chọn một trong những cách được trình bày trong bài.

6. Thắt chặt điều khiển của UAC

Cùng với tất cả các cách để việc sử dụng UAC dễ dàng hơn, chúng tôi cũng đưa vào một số mẹo vặt có thể hữu dụng cho những ai muốn UAC an toàn hơn. Ở chế độ mặc định, UAC bắt buộc người dùng không phải admin gõ mật khẩu admin, nhưng cho phép người dùng admin chỉ cần đơn giản nhấn OK để đồng ý một hành động của UAC. Có nghĩa là có thể buộc UAC yêu cầu password cho tất cả các người dùng, bao gồm cả admin.
Để thực hiện điều này, chỉnh sửa Registry, và cài đặt giá trị DWORD

HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft (NSDQ: MSFT)\Windows\
CurrentVersion\Policies\System\ConsentPromptBehavi orAdmin
về 1. Giá trị mặc định là 2, tức là hành vi admin tiêu chuẩn.

http://quantrimang.com/photos/image/062008/28/8uacpassword.jpg
Cài đặt ConsentPromptBehaviorAdmin để bắt buộc các admin cung cấp password khi UAC xuất hiện.
7. Thực thi chạy mã có xác thực

Sau đây là một cách tăng cường bảo mật có thể có ích với những người muốn chạy UAC im lặng những vẫn muốn có thêm sự bảo vệ chống lại những đoạn mã giả tạo.

UAC có thể được thiết lập để chạy chương trình với tư cách admin chỉ nếu khi chúng có chữ ký số hợp lệ, mặc dù theo mặc định tính năng này bị tắt đi. Phần lớn các bộ cài chương trình có một số dạng chữ ký; bạn có thể tìm xem một ứng dụng có chữ ký hay không bằng cách nhấn chuột phải lên biểu tượng chương trình, chọn Properties, tìm thẻ Digital Signatures. Đây là một dạng bảo hiểm rằng chương trình đang chạy không độc hại và có nguồn gốc.

http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/28/9validsignature.jpg
Để chắc chắn UAC chỉ chấp nhận những mã được ký, chỉnh sửa Registry và đặt giá trị DWORD:

HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr entVersion\
Policies\System\ValidateAdminCodeSignatures
về 1. Thay đổi này thường xảy ra ngay lập tức.

Nhớ rằng có nhiều chương trình vô hại nhưng không được ký sẽ không hoạt động, và nếu bạn cố gắng chạy chúng với quyền admin mà tính năng này được kích hoạt thì chúng sẽ bị lỗi. Nếu bạn nhận được dòng lỗi “A referral was returned from the server” thì đó là dấu hiệu chương trình bạn đang muốn chạy chưa được ký. (Đây có lẽ là nguyên nhân chức năng này bị vô hiệu hóa theo mặc định, vì nó sẽ khiến nhiều chương trình “vô tội” không hoạt động.)

http://quantrimang.com/photos/image/062008/28/10UAC.jpg
Nếu có gì đó bạn biết là hợp lệ và muốn chạy nó với quyền admin, bạn có thể làm được bằng cách chạy nó thông qua dòng lệnh nâng cao, Explorer, hoặc thông qua Process Explorer được nhắc đến trước đó.





Tuệ Minh (Theo Infomation Week)

secret-ami
02-07-2008, 02:23 PM
Khắc phục lỗi lưu tệp tin trên ổ cứng Windows Vista -

http://quantrimang.com/MetaNET_ad/glass.gif (http://adrealclick.com/click/?ad=98&cust=vietnamlearning.com.vn&pos=91&url=http://www.vietnamlearning.com.vn/thongtin/ccna.html)



Trong Windows Vista, khi bạn lưu một tệp tin trên ổ cứng hoặc một thiết bị lưu trữ dữ liệu, bạn nhận được một trong hai thông báo sau:

Thông báo 1: X:\Folder\FileName (“X” là thư mục bạn định lưu trữ dữ liệu,“FileName” là tên file mà bạn lưu) You don’t have permission to save in this location. Contact the administrator to obtain permission. Would you like to save in the Documents folder instead?

Thông báo 2: Access to X:\Folder\FileName was denied.

Các thông báo lỗi trên có thể xảy ra do ổ cứng của bạn hoặc thiết bị lưu trữ dữ liệu bạn sử dụng được định dạng trong phiên bản trước của hệ thống tệp tin Windows NTFS. Trong trường hợp này, ổ cứng hoặc thiết bị lưu trữ dữ liệu của bạn được định dạng trong hệ điều hành Windows XP nên bạn không thể thực hiện được thao tác lưu dữ liệu.

Để khắc phục các thông báo lỗi trên, bạn làm theo hướng dẫn sau để định dạng lại các thiết bị lưu trữ dữ liệu trên trong Windows Vista.

- Sao chép toàn bộ các dữ liệu trên ổ cứng ngoài hoặc thiết bị lưu trữ dữ liệu cần sử dụng.

- Kích chuột vào Start, Computer. Sau khi kích chuột phải vào ổ cứng hoặc thiết bị lưu trữ dữ liệu cần sử dụng, bạn chọn tính năng Format.

Lưu ý: Nếu bạn gặp thông báo yêu cầu đăng nhập mật khẩu admin thì bạn gõ vào đó mật khẩu, hoặc một thông báo yêu cầu xác nhận thông tin thì bạn kích chuột vào nút bấm Continue.

- Tiếp đó, bạn chọn NTFS (default) file system trong danh sách, đánh dấu vào Quick Format bằng cách kích chuột vào hộp đánh dấu. Sau đó, bạn kích chuột vào Start. (Lưu ý với hành động này thiết bị lưu trữ của bạn sẽ bị xóa toàn bộ dữ liệu)

- Sau khi kết thúc quá trình định dạng lại ổ cứng hoặc thiết bị lưu trữ dữ liệu cần sử dụng, bạn đóng hộp thoại Format Local Disk.





Theo Thu Hiền - Tiền Phong (Microsoft)

secret-ami
02-07-2008, 02:23 PM
Chung sống với Vista khi không còn XP - 2/7/2008

http://quantrimang.com/MetaNET_ad/glass.gif (http://adrealclick.com/click/?ad=98&cust=vietnamlearning.com.vn&pos=91&url=http://www.vietnamlearning.com.vn/thongtin/ccna.html)



Những "chiêu" tăng tốc độ và các bí quyết sử dụng tính năng mới trong hệ điều hành này sẽ khiến Windows Vista trở nên thân thiện hơn.

Người sử dụng có thể tăng tốc độ cho hệ điều hành mới bằng nhiều cách như dùng USB và tính năng Windows ReadyBoost, bỏ thanh công cụ dọc sidebar khá nặng nề, đầu tư cho các thành phần như RAM...

Thực tế cho thấy cả máy tính dùng chip Celeron 1,6 GHz nhưng RAM 1 GB vẫn có thể chạy Windows Vista Ultimate khá nhanh với các ứng dụng đơn giản và lướt web. Những máy dùng chương trình đồ họa nặng mới cần nâng cấp thêm RAM 2 GB trở lên cùng vi xử lý.

Sử dụng thành thạo trình quản lý tài khoản User Account Control (UAC)

Đây là tên "lính gác cổng" khó chịu nhất trong Windows Vista vì mỗi khi cài, gỡ, đổi tên một chương trình, thậm chí... chỉnh đồng hồ, bạn đều phải xin phép nó. Các chỉnh sửa hàng ngày đều dễ dẫn đến lỗi màn hình xanh hay tối sầm.

- Một biện pháp là tắt UAC hoàn toàn (vào Start > Control Panel > User Accounts and family safety > User accounts rồi nhấn Turn User Account Control on or off > bỏ dấu ở hộp User Account Control >OK. Khởi động lại máy).

- Nếu chịu khó hơn, bạn có thể để UAC bật/tắt khi cần thiết theo ý mình, có thể tắt với những việc đơn giản, bật với những tác vụ "nhạy cảm" hơn. Mở Notepad, gõ dòng đầu tiên liền nhau:

%windir%\System32\reg.exe ADD HKLM\SOFTWARE\ Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System /v EnableLUA /t REG_DWORD /d 0 /f
Nhấn Enter. Dòng lệnh này sẽ tắt UAC.

Dòng thứ hai gõ:

shutdown /r /t 20 /c "Restarting your system in 20 seconds. To cancel, choose Start, type shutdown /a and press Enter"
Nhấn Enter. Dòng này sẽ ra lệnh cho máy khởi động lại sau 20 giây va fbao gồm một hướng dẫn dừng quá trình này khi cần thiết. Thay đổi số 20 thành bất kỳ số nào. Sau đó nhấn File > Save As để lưu dưới định dạng .cmd.

Tiếp theo, tạo một shortcut đến file vừa tạo. Xác định icon cho file này, giữ chuột phải khi kéo icon ra vị trí cần đến rồi thả nút > chọn Create Shortcuts here. Bấm chuột phải vào shortcut và chọn Properties. Trong thẻ Shortcut, nhấn nút Advanced, đánh dấu vào Run as administrator và nhấn OK hai lần. Sau này, khi bạn khởi động shortcut đó, UAC vẫn hiện ra nhưng ít nhất bạn có đặc quyền chạy file batch sau khi xác nhận.

Tiếp tục mở Notepad và nhấn File > New. Gõ liền nhau:

%windir%\System32\reg.exe ADD HKLM\SOFTWARE\Microsoft\Windows\ CurrentVersion\Policies\System /v EnableLUA /t REG_DWORD /d 1 /f
Nhấn Enter.

Dòng thứ 2 gõ:

shutdown /r /t 20 /c "Restarting your system in 20 seconds. To cancel, choose Start, type shutdown /a and press Enter"
Sau đó lưu file dưới định dạng .cmd. Do bạn sẽ chạy file này khi UAC đã tắt nên không cần tạo shortcut như file batch thứ nhất. Khi cần kích hoạt lại UAC mới chạy nó trực tiếp.

http://quantrimang.com/photos/image/072008/02/windows-vista.jpgDo cả hai file batch đều làm hệ thống khởi động lại nên hãy lưu tất cả các công việc đang làm.

- Đăng nhập bằng tài khoản user

Nếu không chịu nổi UAC, hãy đăng nhập bằng tài khoản người dùng thông thường (không phải administrator - nhưng vẫn phải tạo một tài khoản administrator cho hệ thống).

Vào menu Start > gõ User Accounts > chọn tên tài khoản từ dòng kết quả tìm thấy. Chọn Manage another account để "giảm cấp" một tài khoản khác, chứ không phải tài khoản bạn đang đăng nhập. Xác nhận lệnh này khi được hỏi. Chọn tài khoản administrator bạn muốn "giáng cấp", nhấn Change the account type > Standard user > Change Account Type. Do bạn sẽ làm việc ở cấp người dùng thông thường ít đặc quyền hơn, bạn sẽ không thể làm những việc gây **ng chạm đến quy định của UAC.

Từ lúc này trở đi, nếu bạn cần cài đặt hay chạy một ứng dụng dưới quyền một người quản lý, hãy bấm chuột phải vào file .exe của nó và chọn Run as administrator.

- Tắt một phần của UAC

Dù gây phiền nhiễu, UAC cũng là "lính gác" tận tâm và bạn còn cần nó trong một số tình huống. Mặc dù Control Panel hạn chế tắt/bật UAC, bạn có thể hiệu chỉnh thông qua Group Policy Object Editor.

Nhấn Start > gõ gpedit.msc và nhấn phím Enter. Xác nhận lại ở hộp thoại hiện ra. Trong cây chương tình ở tay trái, tìm đến Local Computer Policy\Computer Configuration\Windows Settings\Security Settings\Local Policies\Security Options.

Với Security Options được chọn, hãy đi xuống bên ô phải để vào các tùy chọn của UAC. Các cài đặt tại đây khá rõ ràng. Nếu bạn muốn nhận hộp thoại UAC cho nhiều tác vụ nhưng muốn cài đặt được phần mềm mà không có sự can thiệp của nó, hãy bấm đúp chuột vào User Account Control: Detect application installations and prompt for elevation. Chọn Disabled > OK và khởi động lại máy.

Một cách nữa là bật UAC nhưng tắt hộp thoại nhắc nhở. Lúc này, UAC vẫn bảo vệ tính năng bảo mật của Internet Explorer. Nhấn đúp chuột vào User Account Control: Behavior of the elevation prompt for administrators in Admin Approval Mode > chọn Elevate without prompting từ danh sách xổ xuống > nhấn OK. Một cửa sổ hiện ra báo UAC bị tắt nhưng bạn hãy bỏ qua.

Tuy nhiên, Vista Home Premium không có Group Policy Editor. Để thay đổi điều này, có thể vào registry chỉnh sửa (nhưng chú ý sao lưu nó trước để sau này khôi phục lại được).

Vào Start > gõ regedit > nhấn Enter. Trong cây chương trình, tìm đến HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\ Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\System.

Với System được chọn ở ô trái, bấm đúp chuột vào ConsentPromptBehaviorAdmin ở bên phải. Đổi giá trị Value thành 0 và nhấn OK. Không cần khởi động lại.





Theo Việt Toàn - VnExpress (PC World)

secret-ami
24-07-2008, 10:51 AM
Biến giao diện của Vista giống XP


Cập nhật lúc 08h54' ngày 24/07/2008 (http://quantrimang.com/daily/24072008/index.aspx)



Rick Broida
Một máy tính mới với hệ điều hành Vista. Có thể là Vista được triển khai cho văn phòng, hoặc có thể là bạn tự mua. Dù có rơi vào trường hơp nào đi chăng nữa thì bạn cũng rất dễ bị lạc trong giao diện mới lạ của nó. Trong trường hợp đó chắc hẳn bạn sẽ muốn quay ngược thời gian và khôi phục trở lại giao diện Windows XP ưa thích của mình?
http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista1.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista1.gif)

Tất cả hoàn toàn đều không bị biến mất: Bạn có thể điều chỉnh giao diện của Vista, điều chỉnh nó giống với giao diện cũ của XP. Nói đúng ra, có một vài cách để thực hiện vấn đề này nếu các mẹo chuyển giao diện này không làm thỏa mãn cơ khát Windows cũ của bạn. Khi những nguồn cấp đã hết thì bạn vẫn có thể có được đãi cài đặt XP từ một số cửa hàng bán lẻ. Bên cạnh đó cũng vẫn còn một số nhà sản xuất hệ thống cung cấp khả năng “giáng quyền” XP đối với những khách hàng mua Vista Business hay Ultimate.
Mặc dù vậy nếu không thích lòng vòng để mua một phiên bản Vista có đăng ký của XP, bạn có thể làm cho giao diện của Vista giống như giao diện cũ của XP bằng các mẹo dưới đây.

Tắt tính năng Aero Glass


http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista2.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista2.gif)

Rõ ràng môi trường Aero Glass được quảng cáo giùm beng của Vista cũng làm cho hệ điều hành này trông khá đẹp mắt, tuy nhiên cái giá phải trả cho giao diện đẹp mắt đó như thế nào? Đó chính là sự ảnh hưởng tới hiệu suất của hệ thống. Chính vì vậy để làm cho giao diện này giống như XP, bạn phải ngắt tính năng Aero Glass này.

Bắt đầu bằng cách kích chuột phải vào bất kỳ vùng trống nào trên màn hình Desktop, sau đó kích Personalize. Tiếp đến, kích Window Color and Appearance. Bỏ chọn hộp kiểm Enable Transparency và kích OK. Ngay lập tức các cửa sổ giống như của XP sẽ xuất hiện.

Hạ các Theme


http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista3.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista3.gif)


Khi không thích màu sắc, các nút hay các phông chữ của Vista, hãy chuyển trở lại theme của XP. Vào cùng tùy chọn Window Color và Appearance như trong bước cuối cùng, và kích vào liên kết được đánh dấu Open classic appearance properties for more color options. Trong hộp 'Color scheme', hãy chọn Windows Standard sau đó kích OK. Đợi một vài phút trong khi Vista chuyển sang chê độ của XP. Khi quá trình chuyển được thực hiện xong, bạn sẽ thấy menu Start, taskbar và nhiều thứ khác nữa giống như của XP.


http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista4.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista4.gif)


Nếu quan sát cẩn thận bạn sẽ thấy sẽ có nhiều phần đây giống với Windows 2000 hơn so với Windows XP. Để làm cho giống XP nhiều hơn, bạn hãy sử dụng đến một tiện ích trợ giúp WindowBlinds của Stardock. Tiện ích này sẽ điều chỉnh mọi góc độ về diện mạo của XP hoặc chọn từ hàng trăm các theme được người dùng thiết kế - gồm có kiểu Windows XP, theme cổ điển của Vista xuất hiện với nút Start màu xanh.

Khôi phục Start Menu


http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista5.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista5.gif)


Sau khi đã hạ toàn bộ theme, bạn hãy khôi phục lại menu Start kinh điển. Mở Control Panel, đánh start menu trong hộp tìm kiếm. Kích Change Start menu to Classic view, sau đó chọn tùy chọn Classic Start menu, sau đó kích Apply. Giống như theme chuẩn của Windows, Start menu kiểu kinh điển sẽ giống Windows 2000 hơn Windows XP, tuy nhiên nếu bạn đã cài đặt WindowBlinds (http://www.stardock.com/products/windowblinds/) để sử dụng cho Windows XP Style như đã được giới thiệu trên thì phần giống sẽ nghiêng về XP.

Trả lại đồng hồ cát


http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista6.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista6.gif)


Nếu bạn không thích vòng xoay tròn màu xanh xuất hiện khi Vista bận, hãy khôi phục lại con trỏ chuột với hình đồng hồ cát thân thiện. Kích chuột phải vào bất kỳ một vùng trống nào đó trên màn hình desptop, chọn Personalize sau đó kích Mouse Pointers. Trong menu Scheme hãy chọn Windows Standard (large hoặc extra large là tùy bạn), sau đó kích OK.

Tắt User Account Control (UAC)
Hầu hết người dùng Vista đều biết đến User Account Control (UAC), thành phần này thực sự khiến một số người cảm thấy bực mình bởi các pop-up bât ra một cách liên tục mỗi khi thay đổi một thiết lập nào đó hoặc cài đặt một chương trình. Trong khi đó XP lại chưa bao giờ làm phiền muộn người dùng bởi sự khó chịu này. Chính vì vậy để tạo lại những cảm nhận về XP thì UAC là thành phần cần phải loại bỏ.


http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista7.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista7.gif)


Hãy mở Control Panel của Vista, đánh UAC trong hộp tìm kiếm. Kích vào liên kết Turn User Account Control (UAC) on or off. Trên màn hình kế tiếp, bạn hãy bỏ chọn cho hôp chọn Use User Account Control (UAC) to help protect your computer, sau đó kích OK. Khởi động lại để làm cho quá trình thay đổi có hiệu lực.

Khôi phục Boot-Splash của XP


http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista8.gif (http://quantrimang.com/photos/Image/072008/24/vista8.gif)

Trong khi Windows đang khởi động, nó sẽ hiện cho bạn thấy một màn hình (boot-splash) như trên. Điều này dường như kém quan trọng, nhưng nếu bạn muốn làm cho Vista giống như XP, hãy khôi phục lại màn hình boot-splash của nó. Để thực hiện, bạn cần hai thứ: ảnh khởi động của XP ( thứ bạn có thể tìm thấy bằng cách tìm kiếm trên Google bằng cụm từ "xp boot splash") và một tiện ích miễn phí có tên gọi Vista Boot Logo Generator (http://www.computa.co.uk/staff/dan/?p=18). Đây làm một chương trình cũng khó sử dụng, chính vì vậy khi bạn cài đặt, hãy đọc kỹ các hướng dẫn và tốt hơn hết là hãy thực hiện theo những gì chỉ bảo trong đó.




(Theo PC World)

secret-ami
25-07-2008, 11:19 PM
Phần 3: Tìm hiểu về các
Configuration Pass





Mitch Tulloch
Loạt bài này về việc triển khai Windows Vista trên các máy desktop sẽ tiếp tục bằng một tổng quan về các pass cấu hình khác nhau của Windows Setup trong Vista.

Trong phần trước của loạt bài này, chúng ta đã nghiên cứu về 3 giai đoạn của Windows Setup trong Windows Vista và Windows Server 2008. Để nói một cách vắn tắt, các giai đoạn này như sau:

1. Giai đoạn Windows PE – Khi bạn thấy màn hình thông báo rằng “Installing Windows”—đó là tất cả các thông tin mà chúng ta cần thiết vào lúc này, giai đoạn đầu tiên của Setup này được hoàn tất và giai đoạn tiếp theo được bắt đầu.

2. Giai đoạn Online Configuration – Không có người dùng nào phải nhập thông tin gì trong suốt giai đoạn này và khi hệ thống thực hiện khởi động lại lần cuối cùng, giai đoạn này được kết thúc và giai đoạn cuối cùng của Setup sẽ bắt đầu.

3. Giai đoạn Windows Welcome – Trong suốt quãng thời gian bạn tiến hành cài đặt, đây là giai đoạn bạn sẽ được nhắc nhở chọn tên người dùng và ảnh, đánh vào tên máy tính và chọn một background cho desktop,…

Từ khía cạnhngười dùng, các bước trên đã mô tả những giai đoạn trong quá trình cài đặt. Mặc dù vậy bên dưới các giai đoạn được mô tả trên còn có nhiều thứ phức tạp chẳng hạn như các configuration pass. Configuration pass là một khía cạnh của quá trình cài đặt có thể được điều khiển bởi việc cấu hình các thiết lập trong file trả lời. Hay nói cách khác, bất cứ cái gì xảy ra trong suốt quãng thời gian một configuration pass đều có thể được tự động hóa. Trong khi đó chỉ có 3 giai đoạn của quá trình cài đặt từ phối cảnh của người dùng thì lại có đến 7 configuration pass khác nhau có thể xuất hiện, điều này phụ thuộc vào kiểu cài đặt nào mà bạn đang thực hiện.

Để xem tại sao vấn đề hiểu được các configuration pass khác nhau này lại quan trọng, chúng ta hãy xem xét đến một số thông tin dưới đây, các thông tin này sẽ cho chúng ta biết cách bổ sung thành phần x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup vào file trả lời của mình.



http://www.quantrimang.com/photos/image/052008/19/Configuration-Pass1.jpg

Hình 1: Bổ sung thêm thành phần x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup vào file trả lời





Lưu ý rằng 7 configuration pass khác nhau sẽ xuất hiện bên trong một file trả lời trong khi triển khai Vista, thành phần x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup cũng có thể được bổ sung vào 6 configuration pass. Điều đó có nghĩa rằng bạn có thể thêm một thành phần này vào offlineServicing pass (đã được chọn trong hình trên) cho file trả lời của bạn, vào generalize pass, specialize pass,…

Có một câu hỏi xuất hiện ở đây đó là: Configuration pass nào của file trả lời sẽ được chúng ta bổ sung thành phần này vào? Câu trả lời phụ thuộc vào hai thứ: hiểu những configuration pass khác nhau này thực hiện những gì và hiểu các kịch bản khác có thể theo cho việc triển khai Vista là gì. Phần còn lại của bài này sẽ xử lý với chủ đề đầu tiên, trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ mô tả một số kịch bản triển khai có thể.

Giờ chúng ta hãy nghiên cứu tỉ mỉ từng configuration pass trong 7 configuration pass trên, sau đó chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn rằng chúng có liên quan với 3 giai đoạn cài đặt được mô tả trước như thế nào. Bằng cách đó, nếu thuật ngữ như “the x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup component of an answer file” – thành phần x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup của một file trả lời vẫn làm cho bạn khó hiểu thì cũng không nên lo lắng nhiều về vấn đề này – các công việc với file trả lời của Vista sẽ được chúng tôi giới thiệu đến trong các phần sau của loạt bài này.

Lưu ý:
Tiền tố “x86” đối với x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup đơn giản có nghĩa là chúng ta đang xử lý với việc triển khai Vista 32-bit, bản được tập trung trong hầu hết các phần của loạt bài này, mặc dù vậy chúng tôi sẽ mô tả các vấn đề khác nhau trong triển khai Vista 64-bit trong một số bài sau.

Pass 1 windowsPE

Các thiết lập file trả lời cho windowsPE, configuration pass được sử dụng để cấu hình hành vi của Windows Preinstallation Environment (Windows PE) sẽ như thế nào. Windows PE là một phiên bản tối thiểu của Windows, được thiết kế để chuẩn bị cho việc cài đặt Windows trên nó, bạn có thể sử dụng WindowsPE để khởi động một hệ thống không có hệ điều hành, partition và định dạng ổ cứng, copy image đĩa vào các ổ của hệ thống, khởi chạy Setup từ một mạng chia sẻ.

Đây thực sự có hai vấn đề: windowsPE pass tương đương với giai đoạn thứ nhất của Windows Setup, nhưng nó cũng là một thành phần độc lập với chính bản thân nó. Chính vì vậy bằng cách cấu hình các thiết lập file trả lời cho pass này bạn có thể kiểm soát cách quá trình Windows Setup bắt đầu như thế nào hoặc điều khiển Windows PE làm việc như thế nào.

Hầu hết các thiết lập file trả lời cho windowsPE pass đều nằm trong thành phần x86_Microsoft-Windows-Setup (hình 2). Về thành phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu kỹ hơn trong một bài khác:



http://www.quantrimang.com/photos/image/052008/19/Configuration-Pass2.jpg

Hình 2: Bổ sung thành phần x86_Microsoft-Windows-Setup vào configuration pass của windowsPE



Pass 2 offlineServicing

Các thiết lập cho configuration pass này có thể được sử dụng để thực hiện những công việc như thêm các driver bổ sung, các nâng cấp bảo mật, các hotfix, gói ngôn ngữ và các gói khác đối với file Windows Image (WIM) của bạn. Lưu ý rằng bạn không thể bổ sung các diver khởi động quan trọng trong suốt pass này – mà cần phải được bổ sung trong suốt windowsPE pass đã được mô tả ở trên, nếu không thì Windows PE sẽ không thể khởi động hệ thống của bạn. Lưu ý rằng bạn cũng không thể bổ sung các gói dịch vụ bằng pass này – hoặc ít nhất, bạn cũng không thể sử dụng pass này để thêm SP1 vào image của Vista RTM, lý do cho vấn đề này là Microsoft có một số thay đổi trong kiến trúc đối với ngăn xếp trong Vista SP1 và việc bảo dưỡng ngăn xếp không thể tự nâng cấp.

Từ phối cảnh của việc chạy Windows Setup, offlineServicing pass xảy ra trong suốt giai đoạn thứ hai của quá trình cài đặt, sau khi file .wim đã được copy vào ổ cứng của hệ thống. Điều này là bởi vì image phải được áp dụng với ổ đĩa cứng trước khi nó có thể được phục vụ bởi Package Manager, công cụ kèm theo trong Vista sử dụng cho việc áp dụng các nâng cấp, các bản sửa lỗi và gói cho image (chúng ta sẽ nghiên cứu thêm về Package Manager trong phần sau của loạt bài này). Mặc dù vậy sẽ có một chút phức tạp nếu bạn sử dụng offlineServicing pass để áp dụng các gói cho một image Windows đang trong trạng thái offline, quá trình được biết đến như servicing the image (bảo dưỡng image).

Nhiều thiết lập cho offlineServicing pass được tìm thấy trong x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup, tuy nhiên có rất nhiều các thành phần khác (như thành phần dưới nút Packages trong Windows SIM).

Pass 3 specialize

Pass này được sử dụng để cấu hình một số thiết lập của hệ thống như các thiết lập về mạng, internationalization, domain membership,… Có một số thành phần file trả lời có thể được bổ sung cho pass này nhưng chúng tôi sẽ đề cập đến trong phần sau.

Từ phối cảnh chạy Windows Setup, specialize pass tương ứng với phần thứ hai của giai đoạn thứ hai trong quá trình cài đặt (nghĩa là giữa lần khởi động lại đầu tiên và thứ hai của hệ thống), tuy nhiên có một số vấn đề với pass này khiến nó phụ thuộc thuộc vào kịch bản triển khai mà bạn sẽ làm việc. Điều đó là vì specialize pass cũng có thể được sử dụng cùng với generalize pass như mô tả bên dưới.

Pass 4 generalize

Pass này được gán chặt với lệnh sysprep /generalize. Sysprep, System Preparation Tool, được sử dụng để chuẩn bị một image cho việc triển khai nhiều máy tính đích. Chúng ta sẽ xem xét kỹ đến vấn đề này trong phần sau khi đã kiểm tra tỉ mỉ các kịch bản khác nhau trong triển khai Vista, tuy nhiên cũng có thể nói rằng: generalize pass được sử dụng để tạo image tham chiếu của Windows, trong khi đó specialize pass sau đó có thể được sử dụng để áp dụng các tùy chọn khác vào image tham chiếu này cho các trường hợp sử dụng khác.

Pass 5 auditSystem

Pass này chỉ xảy ra khi cài đặt đang chạy trong chế độ thẩm định bằng sử dụng lệnh sysprep /audit. Chế độ thẩm định (Audit mode) được sử dụng trong các kịch bản triển khai nào đó cho việc bổ sung các tùy chỉnh khác nhau đối với image của Windows và vòng tránh giai đoạn cuối cùng Windows Welcome trong quá trình cài đặt. Bất cứ điều gì xảy ra trong suốt auditSystem pass này đều xảy ra bên trong tài khoản Local System và xuất hiện trước khi người dùng đăng nhập vào máy tính.

Pass 6 auditUser

Pass này tương tự như auditSystem (nghĩa là nó chỉ xảy ra khi cài đặt đang chạy trong chế độ thẩm định) ngoại trừ các vấn đề gì xảy ra trong suốt pass này trong tài khoản của người dùng và xảy ra sau khi người dùng đăng nhập vào máy tính của họ.

Pass 7 oobeSystem

Configuration pass cuối cùng tương ứng với việc bắt đầu của giao đoạn thứ ba, giai đoạn kết thúc của cài đặt và được sử dụng để cấu hình những gì xảy ra trong giai đoạn Windows Welcome của quá trình cài đặt.

Tổng thể

Nếu chúng ta chỉ tập trung vào một cài đặt của Windows Vista trong hệ thống phần cứng mới thì đây sẽ là một so sánh giữa ba giai đoạn trong quá trình cài đặt Windows Vista và 7 configuration pass:



http://www.quantrimang.com/photos/image/052008/19/Configuration-Pass3.jpg

Hình 3: So sánh các giai đoạn của Windows Setup với các configuration pass cho một cài đặt Vista



Với mỗi một cài đặt cơ bản của Vista, bạn chỉ cần phải cấu hình các thiết lập cho windowsPE và oobeSystem pass. Với các kịch bản cài đặt phức tạp hơn, bạn vẫn có thể cấu hình các thiết lập cho specialize pass, và nếu cần bổ sung thêm các nâng cấp, các bản sửa lỗi hoặc các thành phần khác trong suốt quá trình cài đặt thì bạn cũng có thể cấu hình các thiết lập offlineServicing pass.

(http://www.quantrimang.com/kienthuc/microsoft/bai-viet/47368_Trien_khai_Vista_%E2%80%93_Phan_7_Tao_mot_Fi le_Answer_muc_toi_thieu.aspx)


(Theo WindowsNetworking)

secret-ami
25-07-2008, 11:23 PM
– Phần 4: Tìm hiểu các kịch bản triển khai





Mitch Tulloch
Loạt bài về tự động triển khai Windows Vista đối với các máy desktop tiếp tục với việc kiểm tra các kiểu kịch bản triển khai khác nhau bạn có thể sử dụng cho Vista.

Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về 7 Configuration Pass trong quá tình cài đặt của Vista. Tìm hiểu về các Configuration Pass này là một vấn đề rất quan trọng vì nhiều thành phần file answer có thể được bổ sung vào nhiều configuration pass. Ví dụ, chúng đã thấy trong phần trước về thành phần x86_Microsoft-Windows-Shell-Setup có thể được bổ sung vào 6 trong 7 configuration pass. Chính vì vậy câu hỏi đưa ra ở đây là: Configuration pass nào nên bổ sung thành phần này vào file answer của mình nếu muốn các thiết lập cấu hình cho thành phần này được áp dụng?

Trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào kiểu kịch bản triển khai mà bạn đang lập kế hoạch sử dụng cho việc triển khai Vista, và đó cũng chính là nội dung của phần 4 mà chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn. Chúng ta sẽ khảo sát ba kịch bản và bạn có thể xem xét các kịch bản triển khai khác, cả 3 kịch bản triển khai này đều được sử dụng trong các môi trường doanh nghiệp. Các kịch bản mà chúng tôi sẽ khảo sát ở đây có tên gọi:


Build-to-Plan (BTP)
Build-to-Order (BTO)

Chúng ta sẽ đi xem xét các kịch bản này, những liên quan của chúng với 7 configuration pass trong quá trình cài đặt của Vista. Trong các phần sau chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn chi tiết các bước tiến hành trong các kịch bản này.

Kịch bản Build-to-Plan (BTP)

Reference image là một copy của Windows để bạn có thể triển khai bằng việc sử dụng disk-image (cũng được gọi là “hệ vô tính”) vào nhiều máy tính có cùng cấu hình phần cứng như máy tính nguồn của bạn. Trong môi trường điển hình, quá trình xây dựng Vista reference image có thể được thực hiện theo thứ tự như sau:

1. Tạo một file answer để tự động quá trình cài đặt và lưu nó dưới dạng file autounattend.xml vào thiết bị lưu trữ có thể lưu động như ổ USB.

2. Đưa đĩa DVD và thiết bị lưu trữ file answer vào máy tính nguồn (hệ thống mới được lắp đặt phần cứng xong vẫn chưa có hệ điều hành nào được cài đặt trên nó) và khởi động hệ thống.

3. Windows Setup bắt đầu bằng cách chạy các pass windowsPE và offlineServicing, nghĩa là bất cứ thành phần nào trong file answer của bạn đã được add vào các pass này sẽ được sử dụng để áp dụng các tùy chỉnh về cách Windows Setup chạy trên máy tính nguồn này như thế nào.

4. Khi file .wim đã được copy vào ổ đĩa cứng của máy tính tham chiếu thì specialize pass sẽ chạy, chính vì vậy bất kỳ các thành phần nào trong file answer của bạn đã được add vào pass này sẽ được sử dụng để áp dụng các tùy chỉnh về cách Setup sẽ chạy như thế nào.

5. Khi Setup kết thúc, oobeSystem pass sẽ chạy, có nghĩa rằng các thành phần trong file answer đã add vào pass này sẽ được sử dụng để áp dụng cho Setup chạy như thế nào.

6. Khi Windows Welcome được kết thúc và bạn đã đăng nhập vào hệ thống, khi đó bạn có thể cài đặt các gói dịch vụ, add thêm các driver thiết bị, cài đặt các ứng dụng và thực hiện các tùy chỉnh khác cho máy tính nguồn của mình.

7. Khi máy tính nguồn của bạn đã sẵn sàng, bạn có thể chạy lệnh sysprep /generalize /oobe /shutdown, lệnh này sẽ copy hệ thống của tất cả dữ liệu trên máy tính nguồn như SIDs, event logs,… Nếu cần thiết thì bạn cũng có thể chỉ định file answer trong lệnh sysprep này để các thành phần trong file answer đã được add vào generalize pass của file answer này có thể được sử dụng để áp dụng tùy chỉnh cho những gì lệnh sysprep thực hiện.

8. Bây giờ khởi động hệ thống đã chạy lệnh trên của bạn bằng Windows PE DVD và chạy ImageX để capture một image của máy nguồn. Sau đó bạn phải lưu image tham chiếu này vào một mạng chia sẻ hoặc DVD để bạn có thể sử dụng sau này vào việc triển khai Vista cho các máy tính khác có cùng cấu hình phần cứng như máy nguồn.

Khảo sát kịch bản ở trên, chúng ta có thể thấy các configuration pass mà bạn sẽ sử dụng để add các thành phần vào file answer của mình có thể là bất kỳ hoặc tất cả các thành phần dưới đây:


windowsPE pass
offlineServicing pass
specialize pass
oobeSystem pass
generalize pass (yêu cầu file answer riêng được sử dụng bởi lệnh sysprep)

Kịch bản Build-to-Order (BTO)

Kịch bản Build-to-Order (BTO) cũng tương tự như kịch bản built-to-plan (BTP) ở trên, ngoại trừ trường hợp khi bạn đã tạo một image tham chiếu cho tất cả các máy đích có cùng cấu hình phần cứng với máy nguồn, bạn có thể tùy chỉnh image này nhiều hơn nếu cần cho một số người dùng hoặc một số phòng ban khác (trong môi trường doanh nghiệp) hoặc cho các khách hàng khác (nếu bạn là nhà xây dựng hệ thống hoặc OEM). Các bước ban đầu của kịch bản BTO rất quan trọng. Quá trình BTO như sau:

1. Sử dụng Windows PE và ImageX để áp dụng image tham chiếu mà bạn đã tạo trước đó cho một trong các máy tính mà bạn sẽ cung cấp, có thể là nhóm người dùng nào đó hay các khách hàng hoặc phòng ban nào chẳng hạn.

2. Khi cài đặt kết thúc, bạn chạy lệnh sysprep /audit /generalize /shutdown để lần sau đó bạn khởi động hệ thống sẽ bắt đầu trong chế độ thẩm định.

Lệnh này thực hiện những góc độ cơ bản của chế độ kiểm định. Khi khởi động máy tính có hệ điều hành Vista đã được cài đặt, nó có thể thực hiện một trong số công việc sau:

• Chạy configuration pass oobeSystem, sau đó khởi chạy Windows Welcome (cũng được gọi là “Machine OOBE Experience”), điều này sẽ cho phép người dùng tùy chỉnh hệ thống của anh ta trước khi đăng nhập bằng cách chấp nhận EULA, tạo các tài khoản và chọn Time Zone của họ,…

• Chạy configuration pass auditSystem và auditUser, sau đó khởi động máy tính của bạn trong chế độ thẩm định (audit mode), một giai đoạn của Windows Setup cho phép bạn thực hiện các tùy chỉnh bổ sung và test các tùy chỉnh này trước khi triển khai Windows. Các tùy chỉnh này có thể gồm có các driver bổ sung, các ứng dụng cài đặt, cài đặt nâng cấp phần mềm…

Khởi động trong chế độ Windows Welcome là chế độ mặc định, để áp đặt máy tính khởi động trong chế độ thẩm định bạn cần phải chạy lệnh sysprep /audit. Khi chạy lệnh này, bạn có thể chỉ định file answer có thể được sử dụng để áp dụng tùy chỉnh được chỉ định bởi các thành phần dành cho các configuration pass auditSystem và auditUser. Khởi động trong chế độ thẩm định sẽ nhanh hơn vì bạn có thể bỏ qua Windows Welcome, chính vì vậy chế độ này rất hữu dụng khi bạn phải thực hiện các tùy chọn khác trên máy tính trước khi phân phối nó đến tay người dùng hoặc khách hàng như dự định. Chế độ thẩm định cũng cho phép bạn bắt đầu với một image tham chiếu cho những tổ chức lớn (các máy tính vẫn cùng cấu hình), sau đó tùy chỉnh image này với các driver bổ sung và các ứng dụng khi cần thiết cho nhu cầu nào đó của người dùng, khách hàng hoặc các phòng ban. Điều này có nghĩa rằng bạn có thể có một số lượng nhỏ hơn các image cần thiết để duy trì.

Bây giờ chúng ta hãy quay lại các bước duy trì cho kịch bản BTO.

3. Sử dụng Windows PE và ImageX lần nữa để capture một image tham chiếu mới cho nhóm người dùng nào đó hay các khách hàng hoặc phòng ban nào chẳng hạn. Lưu ý rằng image tham chiếu gốc của bạn đã được sử dụng cho tất cả các máy tính trong tổ chức có cùng cấu hình phần cứng, còn image tham chiếu mới này là dùng cho tất cả các máy tính có những yêu cầu riêng của người dùng, khách hàng hoặc phòng ban.

4. Sau đó sử dụng Windows PE và ImageX để cài đặt tham chiếu mới trên các máy tính đã được dự trù trước cho nhóm người dùng của bạn.

5. Khởi động các máy tính đích trong chế độ kiểm định và thực hiện các tùy chỉnh sâu hơn theo yêu cầu của họ (bạn có thể sử dụng file answer với các thành phần đã được add cho các configuration pass auditSystem và auditUser để có thể tự động tùy chỉnh nếu cần).

6. Chạy lệnh sysprep /oobe /shutdown trên các máy tính đích. Khóa chuyển đổi /oobe có nghĩa rằng Windows Welcome sẽ khởi chạy vào thời điểm tiếp theo khi các máy tính khởi động.

7. Đặt tất cả các máy tính này vào một “dây chuyền” và phân phối chúng đến người dùng, khách hàng, phòng ban đã được dự định từ trước.

Trong phần tiếp theo của loạt bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về các bước trong các kịch bản triển khai này và đưa ra một số điểm tùy chỉnh khác nhau, nhưng lúc này chúng ta vẫn cần phải xây dựng những hiểu biết cơ bản của mình về các khái niệm triển khai Vista và các công cụ. Bạn cũng có thể thấy được chúng tôi cũng đã đề cập đến lệnh sysprep một vài lần trong phần này, chính vì vậy chúng tôi sẽ giới thiệu một chút về nó trong phần tiếp theo.



(Theo WindowsNetworking)

secret-ami
25-07-2008, 11:26 PM
– Phần 5: Sử dụng Sysprep





Mitch Tulloch
Trong phần trước của loạt bài này chúng tôi đã khảo sát tỉ mỉ một số kịch bản triển khai chung để các doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm triển khai Windows Vista. Trong suốt các kịch bản đó, công cụ Sysprep đã được giới thiệu, chính vì vậy chúng ta hãy sử dụng bài này để khảo sát về công cụ này là gì và nó thực hiện những gì, cách mà bạn sử dụng nó ra sao.

Sysprep là viết tắt của System Preparation, đây là một công cụ cho phép bạn sử dụng đồng thời với các công cụ triển khai khác với những mục đích khác. Các mục đích này có thể gồm:

• Tạo cài đặt Windows bằng cách remove các thông tin cụ thể về máy như (SID), nội dung của các bản ghi sự kiện, các điểm khôi phục hệ thống, driver Plug and Play đã được cài đặt,… để sau đó có thể triển khai cài đặt cho máy tính khác, sử dụng các công cụ ảnh hóa (imaging) giống như ImageX để capture image của máy đã được tạo trước và sau đó áp dụng image này cho các máy khác.

• Khởi động cài đặt Windows trong chế độ kiểm định (audit) để bạn có thể tùy chỉnh cài đặt bằng cách thêm vào các driver thiết bị bổ sung và cài đặt các ứng dụng bổ sung trên nó, sau đó test cài đặt của bạn để bảo đảm nó được tùy chỉnh đúng với người dùng được dự định.

• Chuẩn bị cài đặt Windows để cung cấp cho người dùng hoặc khách hàng bằng cách chạy Windows Welcome khi người dùng hoặc khách hàng khởi động máy tính lần đầu.

• Truyền tải cài đặt Windows đang có trên máy tính cũ của bạn sang một máy tính mới.

Chạy Sysprep

Sysprep có thể được chạy bằng cách sử dụng ba phương pháp khác nhau:


Từ tiện ích dòng lệnh
Từ UI (giao diện người dùng)
Từ file answer

Để chạy Sysprep từ dòng lệnh, hãy mở nhắc lệnh admin-level bằng cách nhấn phím Windows Key+R, đánh cmd và kích OK. Sau đó đánh cd sysprep để thay đổi thành thư mục %SYSTEMROOT%\system32\sysprep, sau đó đánh tiếp sysprep và theo sau là một hoặc nhiều tham số lệnh được liệt kê trong bảng 1 bên dưới.



Tham số Chỉ dẫn

/audit Buộc máy tính phải khởi động trong chế độ audit ở thời điểm kế tiếp nếu bạn khởi động nó. Thêm vào đó, nếu một file answer hiện đang được sử dụng với Sysprep thì các thiết lập đã được cấu hình cho auditSystem passes và auditUser passes sẽ được xử lý.

/oobe Buộc máy tính khởi chạy Windows Welcome ở thời điểm kế tiếp nếu bạn khởi động nó. Thêm vào đó, nếu một file answer hiện đang được sử dụng với Sysprep thì các thiết lập đã được cấu hình cho oobeSystem pass sẽ được xử lý trước khi Windows Welcome bắt đầu.

/generalize Remove tất cả các thông tin cụ thể của máy tính ra khỏi hệ thống của bạn để chuẩn bị cài đặt Windows cho triển khai vào một máy tính khác bằng các công cụ ảnh hóa đĩa như ImageX.

/shutdown Buộc máy tính shut down khi Sysprep kết thúc.

/reboot Buộc máy tính khởi động lại khi Sysprep kết thúc.

/unattend:answerfile Áp dụng các thiết lập đã được cấu hình trong file answer đã được chỉ định khi Sysprep chạy. Chỉ có các thiết lập đã được chỉ định trong các pass: oobeSystem, auditSystem và auditUser mới có thể được áp dụng trong suốt quá trình Sysprep.

/quiet Chặn sự hiển thị các thông báo xác nhận trên màn hình. Sử dụng tham số
này khi tự động hóa hoạt động của Sysprep bằng cách sử dụng tham số /unattend.

/quit Đơn giản chỉ thoát sau khi Sysprep chạy nghĩa là không shutdown hay reboot.





Để chạy Sysprep từ UI, hãy mở nhắc lệnh admin-level như đã được mô tả ở trên, thay đổi thư mục %SYSTEMROOT%\system32\sysprep, sau đó đánh sysprep mà không có các tham số dòng lệnh nào. Thao tác này sẽ mở cửa sổ System Preparation Tool như thể hiện trong hình 1:



http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep1.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep1.jpg)

Hình 1: Sysprep UI



Kết hợp các tùy chọn bạn có thể chọn từ UI tương ứng với các tùy chọn dòng lệnh như dưới đây:
(oobe OR audit) [REQUIRED] AND generalize [OPTIONAL] AND (shutdown OR reboot OR quit) [REQUIRED]
Cách tốt nhất trong việc học cách Sysprep làm việc như thế nào là hãy thử sử dụng nó. Các phần tiếp theo chúng tôi sẽ giới thiệu một số ví dụ để các bạn tìm hiểu được dễ dàng hơn.

Ví dụ 1: Tạo hệ thống và sau đó khởi động lại trong Windows Welcome


Hình 2 thể hiện các lựa chọn của UI cho kịch bản này:



http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep2.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep2.jpg)

Hình 2: Cấu hình Sysprep để tạo một hệ thống và sau đó
khởi động lại trong Windows Welcome





Nếu sử dụng dòng lệnh thì lệnh sẽ tương đương như dưới đây:
sysprep /generalize /oobe /reboot
Đây là những gì xảy ra khi bạn chạy lệnh Sysprep ở trên trong cài đặt của Windows Vista. Đầu tiên, một hộp trạng thái sẽ xuất hiện chỉ thị rằng Sysprep đã bắt đầu thực hiện công việc của nó (xem hình 3):



http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep3.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep3.jpg)

Hình 3: Sysprep đang bắt đầu công việc



Sau đó hệ thống sẽ khởi động lại một vài lần trong khi Sysprep vẫn tiếp tục công việc (Xem hình 4 và 5):

http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep4.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep4.jpg)
Hình 4: Sysprep đang thực hiện công việc




http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep5.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep5.jpg)

Hình 5: Sysprep vẫn tiếp tục thực hiện công việc


Khi Sysprep kết thúc thì Windows Welcome (Machine OOBE) sẽ bắt đầu (hình 6):

http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep6.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep6.jpg)

Hình 6: Windows Welcome bắt đầu



Lúc này, các màn hình khác nhau của Windows Welcome sẽ được hiển thị theo thứ tự sau (giả dụ bạn đang sử dụng phương tiện có đăng ký bản quyền như Windows Vista Enterprise):
1. Chỉ định các thiết lập vùng, thời gian và keyboard layout

2. Chấp nhận EULA

3. Đánh tên người dùng, mật khẩu và chọn một ảnh cho người dùng

4. Đánh tên máy tính và chọn background cho desktop

5. Chỉ định các thiết lập nâng cấp tự động

6. Chỉ định các thiết lập ngày và giờ

7. Chỉ định vị trí (nhà, nơi làm việc hoặc địa điểm công cộng)

8. Kích Start để hoàn tất quá trình Windows Welcome
Ví dụ 2: Tạo một hệ thống và sau đó khởi động lại trong chế độ Audit

Hình 7 thể hiện các lựa chọn UI cho kịch bản này:



http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep7.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep7.jpg)

Hình 7: Cấu hình Sysprep để tạo một hệ thống và sau đó khởi động lại trong chế độ Audit



Lệnh tương ứng trong dòng lệnh là:
sysprep /audit /generalize /reboot
Đây là những gì xảy ra khi bạn chạy lệnh Sysprep trên cài đặt Windows Vista. Đầu tiên, Sysprep thực hiện magic của nó (xem trong hình 3, 4, 5 ở trên). Sau đó Windows sẽ bắt đầu tạo desktop cho tài khoản Administrator kèm theo (hình 8):



http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep8.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep8.jpg)

Hình 8: Desktop cho Administrator hiện được tạo



Sau đó bạn sẽ tự động đăng nhập với tư cách là Administrator (mặc dù tài khoản Administrator đi kèm này bị vô hiệu hóa – nhớ rằng, đây là chế độ Audit chứ không phải chế độ thông thường của Windows) và Sysprep UI được hiển thị lại (xem trong hình 9):



http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep9.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/062008/25/Sysprep9.jpg)

Hình 9: Sysprep UI được hiển thị lại



Sysprep UI được hiển thị lại như để nhắc nhở rằng bạn phải chạy Sysprep thêm một lần nữa khi bạn đã hoàn tất các tùy chỉnh trong suốt chế độ Audit. Bạn có thể chạy Sysprep lần cuối cùng này từ UI hoặc bằng cách chạy sysprep /oobe /shutdown từ dòng lệnh. Việc chạy lần cuối cùng này đối với Sysprep rất cần thiết để khi người dùng nhận máy tính và chạy nó lần đầu tiên thì Windows Welcome (Machine OOBE) sẽ chạy để người dùng có thể thiết lập máy tính của họ được đúng cách. Rõ ràng đó là một kiểu kịch bản mà bạn cần phải có nếu bạn là một OEM chuyên cung cấp các máy tính Windows Vista cho khách hàng trong các môi trường doanh nghiệp, ở đây bạn có thể sẽ muốn tự động hóa quá trình Windows Welcome bằng cách sử dụng các file answer, và đó là những gì chúng tôi muốn giới thiệu cho các bạn trong bài tiếp theo của loạt này: Sử dụng Windows SIM để tạo các file answer triển khai Vista.

(http://www.quantrimang.com/kienthuc/microsoft/bai-viet/47368_Trien_khai_Vista_%E2%80%93_Phan_7_Tao_mot_Fi le_Answer_muc_toi_thieu.aspx)


(Theo Windows Networking)

secret-ami
25-07-2008, 11:32 PM
– Phần 6: Sử dụng Windows SIM




Mitch Tulloch
Loạt bài về tự động triển khai Windows Vista trên các máy trạm sẽ được tiếp tục bằng giới thiệu cách sử dụng công cụ Windows System Image Manager (Windows SIM) để tạo và chỉnh sửa các file answer.

Windows System Image Manager (Windows SIM) là một trong các công cụ chính có trong Windows Automated Installation Kit (Windows AIK). Windows SIM có thể được sử dụng để:


Tạo các file answer XML và chỉnh sửa các file đang tồn tại bằng cách bổ sung thêm các thành phần và các gói, sau đó cấu hình chúng.
Tạo và làm việc với các phần phân phối và các tập cấu hình.

Bài này sẽ tập trung vào cách sử dụng Windows SIM để tạo các file answer cho cài đặt tự động của Windows Vista trên phần cứng mới. Trong các phần sau của loạt bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một cách tỉ mỉ các tập cấu hình nào và phần phân phối nào được sử dụng, cùng với đó là cách tạo chúng bằng Windows SIM.

Khảo sát Windows SIM

Hình 1 thể hiện giao diện người dùng của Windows SIM với 5 phần riêng biệt:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM1.jpg

Hình 1: Giao diện người dùng của Windows SIM



5 phần phân biệt của Windows SIM có các mục đích dưới đây:


Distribution Share – Panel này hiển thị phần phân phối hiện được mở. Bạn cũng có thể sử dụng panel này để tạo các phần phân phối mới, bổ sung thêm các mục để chia sẻ và đóng một chia sẻ mở.

Windows Image – Panel này hiển thị file Windows Image (.wim) hiện được mở. Như sẽ thấy, bạn phải mở một file .wim trước khi có thể tạo một file answer.

Answer File – Panel này là nơi tạo một file answer mới và thêm các thành phần (các nhóm thiết lập của hệ điều hành), các gói (gồm có các nâng cấp phần mềm, gói ngôn ngữ,…) đối với file answer của bạn.

Properties –Panel này cho phép bạn gán các giá trị với thành phần hoặc gói hiện đã được chọn trong panel Answer File của bạn.

Messages – Panel này hiển thị các lỗi, cảnh báo và đưa các thông báo liên quan đến cú pháp và cấu trúc của file answer khi bạn muốn hợp lệ hóa file answer của mình.

Cách đơn giản nhất để xem cách sử dụng Windows SIM là tạo một file answer nhỏ bằng công cụ này, vậy hãy thực hiện ngay lúc này. Các bước mà chúng ta thực hiện được cho dưới đây:

1. Mở file Windows Image

2. Tạo file answer mới

3. Thêm thành phần vào file answer của bạn

4. Cấu hình thành phần mà bạn đã bổ sung

5. Hợp lệ hóa file answer

Mở file Windows Image

Bắt đầu bằng việc copy file Install.wim (image cài đặt mặc định) từ DVD Windows Vista Service Pack 1 Enterprise Edition vào một thư mục nào đó chẳng hạn như W:\Sources\Vista Enterprise trên ổ đĩa cứng của máy tính kỹ thuật viên của bạn. Sau đó mở Windows SIM bằng cách kích Start, All Programs (hoặc Programs), Microsoft Windows AIK, Windows System Image Manager.

Lúc này, trong panel Window Image, kích chuột phải vào “Select a Windows image or catalog file” và chọn Select Windows Image để mở hộp thoại Select A Windows Image. Duyệt đến thư mục W:\Sources\Vista Enterprise SP1 của bạn và kích đúp vào file Install.wim để mở file Windows image trong Windows SIM. Nếu file catalog không có trong file image thì một hộp thoại sẽ nhắc bạn tạo mới file này:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM2.jpg

Hình 2: Tạo file catalog mới cho file Windows image (Install.wim)



File catalog là một file nhị phân gồm có những hướng dẫn về tất cả các thành phần khác nhau và các gói trong Windows image. Bằng cách làm việc với các file catalog thay vì file image, Windows SIM có thể hiển thị các thành phần và gói một cách nhanh hơn. Kích Yes trong hộp thoại xuất hiện ở trên sẽ làm cho Windows SIM xử lý các nội dung của image (quá trình này mất một vài phút) , sau đó hiển thị các thiết lập có khả năng cấu hình cho các thành phần và gói có trong image.

Khi file catalog đã được tạo, Windows SIM sẽ có diện mạo như trong hình dưới đây:

http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM3.jpg

Hình 3: Mở một file Windows image (Install.wim) trong Windows SIM



Tạo một file answer mới

Tiếp đến, chúng ta sẽ tạo một file answer mới nhằm mục đích triển khai Windows Vista SP1. Để thực hiện điều này, trong panel Answer File, kích chuột phải vào “Create or open an answer file” và chọn New Answer File. Một file answer mới sẽ được tạo mà không có thành phần nào trong nó:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM4.jpg

Hình 4: Tạo một file answer mới



Lưu ý rằng những gì bạn thấy trong panel Answer File bên dưới Components? Có 7 configuration pass được sử dụng bởi Windows Setup! (tham khảo phần 3 của loạt bài này nếu bạn cần nhớ lại những gì có liên quan đến configuration pass).

Nó có khả năng cung cấp thông tin để khảo sát cú pháp XML của file answer chưa được cấu hình. Để thực hiện điều này, trước tiên hãy lưu file answer với tên file autounattend.xml. Để thực hiện tiếp, hãy chọn nút gốc (“Untitled”) của file answer và sau đó chọn Save Answer File từ menu File. Duyệt đến nơi mà bạn muốn lưu file này trên ổ đĩa cứng rồi lưu nó lại. Sau đó mở file autounattend.xml mà bạn vừa mới tạo bằng Notepad, đây là những gì bên trong file đó:


<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<unattend xmlns="urn:schemas-microsoft-com:unattend">
<cpi:offlineImage cpi:source="wim:w:/sources/vista%20enterprise/install.wim#Windows Vista ENTERPRISE" xmlns:cpi="urn:schemas-microsoft-com:cpi" />
</unattend>
Chúng ta sẽ so sánh với file answer đã được cấu hình.

Bổ sung thêm thành phần cho file answer

Giờ hãy thêm một thành phần vào file answer. Chúng ta sẽ thêm một thành phần cần thiết khi thực hiện các cài đặt tự động của Windows, cụ thể là, thành phần chỉ thị rằng thỏa thuận đăng ký của người dùng (EULA) đã được chấp nhận. Đây là cách thực hiện:

Đầu tiên, trong panel Windows Image, bạn mở Components để hiển thị thành phần Microsoft-Windows-Setup, sau đó mở để hiển thị thành phần UserData bên dưới Microsoft-Windows-Setup:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM5.jpg

Hình 5: Hiển thị thành phần Microsoft-Windows-Setup\UserData



Lưu ý rằng tên thực của thành phần sẽ có một tiền tố và hậu tố gắn kèm, ví dụ, x86_Microsoft-Windows-Setup_6.0.6000.16386_neutral là một tên thực của thành phần này khi file Install.wim được copy từ đĩaDVD SDN 32-bit Windows Vista Enterprise SP1, tuy nhiên để đơn giản chúng tôi đã bỏ các phần tiền tố và hậu tố.

Để thêm thành phần Microsoft-Windows-Setup\UserData (thành phần sẽ cho phép bạn chấp nhận EULA—xem panel Properties trong hình ở trên) vào file answer của bạn, kích chuột phải vào thành phần này để hiển thị menu chuột phải:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM6.jpg

Hình 6: Configuration pass mà bạn có thể bổ sung Microsoft-Windows-Setup\UserData vào cho file answer



Bạn có thể sẽ thấy trong hình trên một điều rằng chỉ configuration pass, thành phần này có thể được bổ sung, là windowsPE configuration pass. Điều này là do Vista, bạn luôn chấp nhận EULA khi bắt đầu quá trình cài đặt. Mặc dù vậy vẫn còn những thứ khá thú vị ở đây và chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo là một số thành phần có thể được bổ sung nhiều configuration pass, và đó là lý do tại sao nó lại quan trọng đối với chúng ta đến vậy khi đề cập đến configuration pass trước khi xem xét Windows SIM, để bạn có được ý tưởng về configuration pass có thể thêm vào một thành phần riêng cho file answer của bạn.

Dù sao trong hình trên, bạn hãy chọn Add Settings to Pass 1 windowsPE trong menu chuột phải và thành phần Microsoft-Windows-Setup\UserData sẽ được bổ sung vào file answer của bạn – xem panel Answer File trong hình tiếp theo.



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM7.jpg

Hình 7: Thành phần Microsoft-Windows-Setup\UserData đã đươc thên vào
windowsPE configuration pass của file answer.





Cấu hình thành phần vừa bổ sung

Lúc này chúng ta hãy đi cấu hình thành phần Microsoft-Windows-Setup\UserData của file answer để EULA tự động được chấp nhận trong suốt quá trình cài đặt Vista. Để thực hiện điều này, trong panel Properties, bạn hãy kích vào hộp nằm bên phải thiết lập AcceptEula. Thao tác này sẽ làm hiển thị một mũi tên drop-down. Kích vào mũi tên và chọn True:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM8.jpg

Hình 8: Cấu hình file answer để chấp nhận EULA



Hợp lệ hóa file answer của bạn

Trước khi chúng ta lưu và khảo sát file trả lời của mình, hãy hợp lệ hóa nó để bảo đảm cú pháp là đúng. Để thực hiện, hãy chọn Validate Answer File từ menu Tools. Khi bạn thực hiện thao tác này, một thông báo sẽ hiển thị trong panel Messages. Kích đúp vào thông báo để xác định thành phần nào mà nó có kết hợp với:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/02/SIM9.jpg

Hình 9: Các kết việc hợp lệ hóa file answer



Chúng ta có thể thấy được thành phần Microsoft-Windows-Setup\UserData\ProductKey hiện được chọn trong panel Answer File. Thành phần này sẽ không được lưu trong file answer vì bạn không cấu hình các thiết lập cho nó.

Giờ hãy lưu file answer đã được cấu hình của bạn và sau đó mở autounattend.xml bằng Notepad một lần nữa để so sánh với XML đã có trước đó:


<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<unattend xmlns="urn:schemas-microsoft-com:unattend">
<settings pass="windowsPE">
<component name="Microsoft-Windows-Setup" processorArchitecture="x86" publicKeyToken="31bf3856ad364e35" language="neutral" versionScope="nonSxS" xmlns:wcm="http://schemas.microsoft.com/WMIConfig/2002/State" xmlns:xsi="http://www.w3.org/2001/XMLSchema-instance">
<UserData>
<AcceptEula>true</AcceptEula>
</UserData>
</component>
</settings>
<cpi:offlineImage cpi:source="wim:w:/sources/vista%20enterprise%20sp1/install.wim#Windows Vista ENTERPRISE" xmlns:cpi="urn:schemas-microsoft-com:cpi" />
</unattend>
Đây là tất cả những gì cơ bản trong sử dụng Windows SIM để tạo các file answer cho việc triển khai Vista. Trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về các thành phần nào phải được bổ sung vào file answer và được cấu hình nhằm tự động hoàn tất cài đặt tự động của Vista.

(http://www.quantrimang.com/kienthuc/microsoft/bai-viet/47368_Trien_khai_Vista_%E2%80%93_Phan_7_Tao_mot_Fi le_Answer_muc_toi_thieu.aspx)


(Theo Windows Networking)

secret-ami
26-07-2008, 12:45 PM
– Phần 7: Tạo một File Answer
mức tối thiểu




Mitch Tulloch
Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu về Windows System Image Manager (Windows SIM), một công cụ chính của Windows Automated Installation Kit (Windows AIK) để bạn có thể sử dụng nhằm tạo và cấu hình các file answer cho việc triển khai tự động của Windows Vista.



Trong phần 7 và hai phần tiếp theo trong loạt bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn các bước tạo một file answer đơn giản để có thể sử dụng nhằm thực hiện một cài đặt hoàn toàn không giám sát của Windows Vista trên các hệ thống mới tinh bằng phương pháp triển khai cài đặt không giám sát từ DVD. File answer mà chúng tôi sẽ tạo là một file cơ bản nhất, file tối thiểu bạn cần để tự động hoàn tất các triển khai Vista. Trong các phần tiếp theo của loạt bài này chúng tôi sẽ kiểm tra các thiết lập của file answer có bổ sung để bạn có thể cấu hình tự động các khía cạnh khác trong triển khai Vista.


Chỉ định các tùy chọn vùng và ngôn ngữ
Bắt đầu bằng việc chọn và mở file Install.wim của phiên bản Vista muốn triển khai bằng cách thực hiện theo thủ tục được phác họa trong phần trước của loạt bài này. Trong phần giới thiệu này chúng tôi sẽ sử dụng phiên bản 32-bit US English (Anh - Mỹ) của Windows Vista SP1 Enterprise Edition. Khi file image được mở, hãy tạo một file answer mới bằng cách chọn New Answer File từ File menu.

Lúc này, chúng ta hoàn toàn sẵn sàng để bắt đầu việt bổ sung các thành phần vào file answer. Trong panel Windows Image, hãy mở nút Components và chọn nút Microsoft-Windows-International-Core-WinPE bên dưới nó. Sau đó kích chuột phải nút Microsoft-Windows-International-Core-WinPE và chọn Add Setting to Pass 1 windowsPE để bổ sung thành phần này vào windowPE pass cho file answer của bạn. Trong panel Properties, nhập giá trị cho các thiết lập khác nhau của thành phần này như trong hình dưới:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista1.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista1.jpg)
Hình 1: Cấu hình các thiết lập vùng và ngôn ngữ


Những gì chúng ta đã thực hiện ở đây là chỉ định các thiết lập file answer cho ngôn ngữ mặc định và vị trí cho Windows Setup. Bảng dưới đây mô tả các thiết lập mà chúng ta vừa mới cấu hình một cách chi tiết hơn:


Thiết lập Mô tả
InputLocale
Layout của bàn phím và vị trí đầu ra của hệ thống
Layered Driver
Tùy chọn – chỉ được sử dụng cho các bàn phím tiếng Nhật và Hàn Quốc
SystemLocale
Ngôn ngữ mặc định cho Windows Setup
UILanguage
Ngôn ngữ giao diện người dùng mặc định của hệ thống
UILanguageFallback
Ngôn ngữ Fallback nếu UILanguage không được định vị đầy đủ
UserLocale
Định vị sử dụng ngày, giờ, tiền tệ và các chữ số.

Chúng tôi sẽ không giới thiệu đi sâu nhưng có một thành phần file answer khác cần phải chỉ định để kết thúc việc cấu hình các thiết lập ngôn ngữ và vị trí của người dùng. Đây là những gì chúng ta cần thực hiện: trong panel Answer File, bạn hãy mở nút Microsoft-Windows-International-Core-WinPE và chọn SetupUILanguage bên dưới nó. Sau đó trong panel Properties, bạn hãy kích hộp chọn bên phải thiết lập UILanguage và nhập giá trị en-us cho thiết lập này (xem trong hình 2):



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista2.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista2.jpg)

Hình 2: Cấu hình các thiết lập vùng và ngôn ngữ (tiếp)


Chấp thuận EULA


Tiếp đến chúng ta sẽ chỉ định thiết lập của file answer để tự động chấp thuận EULA. Trong panel Windows Image, bên dưới Components, bạn hãy tìm nút Microsoft-Windows-Setup và kích mở nó để hiển thị UserData bên dưới. Sau đó kích chuột phải vào nút UserData và chọn Add Setting to Pass 1 windowsPE để thêm thành phần này vào windowPE pass cho file answer của bạn. Tích vào hộp kiểm bên phải thiết lập AcceptEula để hiển thị mũi tên drop-down, sau đó kích vào mũi tên này và chọn True. Các kết quả cho ra sau đó sẽ giống như những gì thể hiện trong hình 3 bên dưới:


http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista3.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista3.jpg)
Hình 3: Cấu hình các thiết lập để chấp nhận EULA


Mẹo: Nếu bạn triển khai một phiên bản bán lẻ của Windows Vista (chẳng hạn như Windows Vista Business edition) thay vì phiên bản Enterprise đã được đăng ký ấn bản thì bạn vẫn cần phải chỉ định khóa sản phẩm ở điểm này. Để thực hiện điều đó, bạn hãy mở nút Microsoft-Windows-Setup\UserData trong panel Answer File để hiển thị nút ProductKey bên dưới nó, sau đó đánh khóa sản phẩm gồm 29 ký tự trong hộp nhập bên cạnh thiết lập Key trong panel Properties.

Tạo Partition chính mới
Tiếp đến, chúng ta cần chuẩn bị một ổ đĩa cứng trên máy tính của mình để sẵn sàng cài đặt Vista trên đó. Giả dụ trong bài này đang triển khai Vista trên một hệ thống mới toanh, trên hệ thống này, ổ đĩa cứng chưa hề được thiết lập partition, chính vì vậy sẽ chưa có phân vùng nào tồn tại trên nó. Cũng cho rằng hệ thống mục tiêu của chúng ta chỉ có một ổ đĩa cứng nằm trong nó. Điều này có nghĩa là chúng ta phải cấu hình file answer để tạo một partition chính mới, thiết lập nó như một partition hoạt động và định dạng NTFS. Đây là cách thực hiện những vấn đề đó:

Trước tiên, bổ sung Microsoft-Windows-Setup\DiskConfiguration\Disk component vào windowsPE configuration pass trong file answer của bạn và trong panel Properties, thiết lập giá trị DiskID là number 0 (xem trong hình 4):



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista4.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista4.jpg)

Hình 4: Chọn đĩa 0 để tạo một partition mới trên Internet




Tiếp đến, bổ sung thêm nút Microsoft-Windows-Setup\DiskConfiguration\Disk\CreatePartitions\Crea tePartition vào windowsPE configuration pass trong file answer của bạn, trong panel Properties, cấu hình các thiết lập thể hiện trong hình bên dưới để tạo một partition chính mới có kích thước 50GB (xem trong hình 5):



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista5.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista5.jpg)

Hình 5: Tạo partition chính mới trên đĩa đã chọn


Mẹo: Nếu muốn một partition mới lấp đầy toàn bộ ổ đĩa cứng của bạn, hãy đặt thiết lập Extend là True và không chỉ định giá trị cho thiết lập Size.
Lúc này, chúng ta phải đánh dấu partition mới (partition 1) với tư cách tích cực và định dạng nó với định dạng NTFS. Để thực hiện những vấn đề này, bạn hãy thêm nút Microsoft-Windows-Setup\DiskConfiguration\Disk\ModifyPartitions\Modi fyPartition vào windowsPE configuration pass của file answer, trong panel Properties, cấu hình các thiết lập như thể hiện trong hình 6 bên dưới:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista6.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista6.jpg)

Hình 6: Thiết lập partition mới ở trạng thái hoạt động và định dạng sử dụng NTFS


Lưu ý rằng chúng ta cũng đã phải chỉ định thiết lập thứ tự Order trong hình trên – đây là yêu cầu bắt buộc.

Chỉ định Partition mục tiêu
Lúc này chúng ta hoàn toàn sẵn sàng đặt cho Windows Setup về partition đĩa nào chúng ta muốn cài đặt Vista trên đó. Để chỉ định nơi bạn muốn cài đặt image, hãy bổ sung nút Microsoft-Windows-Setup\DiskConfiguration\ImageInstall\OSImage\Insta llTo vào windowsPE configuration pass của file answer, trong panel Properties, cấu hình các thiết lập như thể hiện trong hình 7 bên dưới:



http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista7.jpg (http://www.quantrimang.com/photos/image/072008/25/DeployingVista7.jpg)

Hình 7: Chỉ định để Windows Setup sẽ cài đặt Vista trên partition 1 của đĩa 0


Hợp lệ hóa và lưu file Answer
Ở đây chúng ta hãy chọn Validate Answer File từ menu Tools và kiểm tra xem có lỗi hoặc cảnh báo về các sự kiện được hiển thị trong panel Messages (chỉ các sự kiện thông tin mới được hiển thị, với chúng, bạn có thể bỏ qua một cách an toàn). Lúc này hãy lưu file answer của bạn với tên file autounattend.xml trong thư mục gốc của một ổ đĩa flash USB. Tại sao lại lấy tên autounattend.xml? Và tại sao lại phải lưu nó vào ổ đĩa flash USB? Bạn sẽ tìm ra câu trả lời trong phần tiếp theo của loạt bài này!
Kiểm tra và đánh giá về file Answer
Chúng ta hãy kết luận bằng cách xem xét nhanh file answer vừa mới tạo. Nếu bạn mở autounattend.xml bằng Notepad thì nội dụng bên trong của nó sẽ được thể hiện như bên dưới:

<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<unattend xmlns="urn:schemas-microsoft-com:unattend">
<settings pass="windowsPE">
<component name="Microsoft-Windows-International-Core-WinPE" processorArchitecture="x86" publicKeyToken="31bf3856ad364e35" language="neutral" versionScope="nonSxS" xmlns:wcm="http://schemas.microsoft.com/WMIConfig/2002/State" xmlnssi="http://www.w3.org/2001/XMLSchema-instance">
<SetupUILanguage>
<UILanguage>en-us</UILanguage>
</SetupUILanguage>
<InputLocale>en-us</InputLocale>
<SystemLocale>en-us</SystemLocale>
<UILanguage>en-us</UILanguage>
<UILanguageFallback>en-us</UILanguageFallback>
<UserLocale>en-us</UserLocale>
</component>
<component name="Microsoft-Windows-Setup" processorArchitecture="x86" publicKeyToken="31bf3856ad364e35" language="neutral" versionScope="nonSxS" xmlns:wcm="http://schemas.microsoft.com/WMIConfig/2002/State" xmlns:xsi="http://www.w3.org/2001/XMLSchema-instance">
<UserData>
<AcceptEula>true</AcceptEula>
</UserData>
<DiskConfiguration>
<Disk wcm:action="add">
<CreatePartitions>
<CreatePartition wcm:action="add">
<Order>1</Order>
<Size>50000</Size>
<Type>Primary</Type>
</CreatePartition>
</CreatePartitions>
<ModifyPartitions>
<ModifyPartition wcm:action="add">
<Active>true</Active>
<Format>NTFS</Format>
<Order>1</Order>
<PartitionID>1</PartitionID>
</ModifyPartition>
</ModifyPartitions>
<DiskID>0</DiskID>
<WillWipeDisk>true</WillWipeDisk>
</Disk>
</DiskConfiguration>
<ImageInstall>
<OSImage>
<InstallTo>
<DiskID>0</DiskID>
<PartitionID>1</PartitionID>
</InstallTo>
</OSImage>
</ImageInstall>
</component>
</settings>
<cpi:offlineImage cpi:source="wim:w:/sources/vista%20enterprise%20sp1/install.wim#Windows Vista ENTERPRISE" xmlns:cpi="urn:schemas-microsoft-com:cpi" />
</unattend>
Here’s a tip: What if you need to create several different answer files and they all need to be named autounattend.xml? In that case, just add comments to your answer files using standard HTML comment syntax as follows:
<?xml version="1.0" encoding="utf-8"?>
<!-- ############################################# -->
<!-- Answer file created in Deploying Vista Part 7 -->
<!-- ############################################# -->
<unattend xmlns="urn:schemas-microsoft-com:unattend">
và… Chúng ta sẽ tiếp tục vấn đề này trong phần tiếp theo của loạt bài này.



(Theo Windows Networking)

secret-ami
31-07-2008, 03:09 PM
– Phần 8: Cài đặt không giám sát từ DVD





Mitch Tulloch


Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã sử dụng Windows System Image Manager (Windows SIM) để tạo và cấu hình file answer cơ bản nhằm thực hiện một cài đặt không giám sát đối với Windows Vista trên phần cứng mới. Cuối phần 7, các bạn đã hợp lệ hóa file answer và đã lư nó với tên autounattend.xml vào một ổ đĩa USB.


http://quantrimang.com/photos/image/072008/31/windows-vista.jpg


Lý do cho việc đặt tên file là autounattend.xml thay cho unattend.xml là vì chúng ta sẽ sử dụng cài đặt không giám sát (Unattended Install) từ DVD cho việc cài đặt Vista trên một hệ thống. Trong phương pháp triển khai Vista, bạn cần có file answer của mình trên ổ USB hoặc trên ổ đĩa mềm (cho các hệ thống cũ vẫn hỗ trợ kiểu ổ đĩa này). Chúng ta sẽ xem xét vắn tắt về cách Windows Setup sẽ sử dụng các file answer này như thế nào.
Windows Setup và Answer File
Trong phần thứ hai và thứ ba của loạt bài này, chúng tôi đã giải thích về cách Windows Setup làm việc như thế nào, đã mô tả ba giai đoạn của quá trình cài đặt và 7 configuration pass có liên quan. Khi chạy Windows Setup (setup.exe) để cài đặt Vista, bạn có thể thực hiện có hoặc không có file answer. Triển khai tự động cho Vista yêu cầu cần sử dụng một file answer, khi đó Setup.exe có thể sử dụng các file answer trong hai trường hợp: trường hợp chỉ định cụ thể hoặc tự động tìm kiếm. Chúng ta hãy xem xét cả hai trường hợp chỉ định file answer này như thế nào.


Chỉ định cụ thể


Bạn có thể chỉ định rõ một file answer khi chạy Setup.exe bằng cách sử dụng khóa chuyển đổi /unattend. Cho ví dụ, nếu chạy Setup trên mạng và có file answer trên một lưu trữ chia sẻ, còn các file cài đặt của Vista trên một lưu trữ chia sẻ khác thì bạn có thể khởi chạy Windows Setup bằng cách chạy lệnh:


<path_to_installation_files>setup /unattend:<path_to_answer_file>unattend.xml.
Ở đây file unattend.xml là tên của file answer của bạn. Rõ ràng việc chạy một lệnh như vậy từ một máy tính đích có nghĩa là bạn cần một số hoạt động hệ thống để cài đặt. Ngay từ những ngày sử dụng Windows 95/98/2000, cách thực hiện này là khởi động máy tính đích của bạn bằng một đĩa mềm. Sau này, khi Windows XP được phát hành, OEM và các khách hàng doanh nghiệp thường sử dụng WinPE (Windows Preinstallation Environment), một phiên bản Windows bạn có thể sử dụng để khởi động một hệ thống mới từ dấu nhắc lệnh, kết nối với một mạng chia sẻ, sau đó bắt đầu quá trình cài đặt. Chúng ta sẽ xem xét cách sử dụng Windows PE ngay trong phần 9 của loạt bài này.


Tự động tìm kiếm


Setup.exe cũng có thể hoàn toàn sử dụng các file answer, không hề cần chỉ định rõ nơi file answer được định vị. Trong thực tế, khi cài đặt bắt đầu, chương trình sẽ tự động tìm kiếm trong vài địa điểm xem có file answer ở đó hay không, nếu tìm được một file answer nào, nó sẽ sử dụng file này và bắt đầu thực hiện quá trình cài đặt không gián sát. Không chỉ có vậy, quá trình còn tìm kiếm toàn bộ để tìm ra file answer thực hiện tự động khi bắt đầu mỗi configuration pass xuất hiện trong cài đặt (gồm có 7 configuration pass: indowsPE, offlineServicing, specialize, generalize, auditSystem, auditUser và oobeSystem). Cuối cùng, để tìm kiếm toàn bộ tự động file answer nhằm làm việc trong suốt hai pass đầu tiên (windowsPE and offlineServicing), file answer phải được đặt tên là autounattend.xml thay vì tên thông thường là unattend.xml.


Đây là một số chi tiết: khi cài đặt bắt đầu một configuration pass, chương trình sẽ tự động tìm kiếm file answer ở những nơi đã được đánh dấu theo thứ tự bên dưới.


Trong registry trong vị trí HKLM\System\Setup!UnattendFile

Trong thư mục %WINDIR%\Panther\Unattend (nếu Setup đang được khởi chạy từ phiên bản Windows trước)

Trong thư mục %WINDIR%\Panther, thư mục này chính là vị trí nơi Setup lưu trữ các file answer. Khi Setup tìm ra một file answer tại thời điểm bắt đầu của mỗi configuration pass, nó sẽ lưu file answer này vào thư mục đó nhằm mục đích sử dụng file answer cho các configuration passes còn lại nhưng không có các file answer ở vị trí ưu tiên cao hơn trong thủ tục tìm kiếm.

Trong thư mục gốc của thiết bị lưu trữ có khả năng ghi. Setup sẽ tìm kiếm trong thư mục gốc này cho tới khi tìm được một file answer.

Trong thư mục gốc của thiết bị lưu trữ chỉ có khả năng đọc. Setup cũng sẽ tìm kiếm trong thư mục gốc để tìm ra file answer.

Trong thư mục \Sources, nơi các file cài đặt Vista của bạn được tìm thấy trong các pass (windowsPE và offlineServicing) và trong thư mục %WINDIR%\System32\Sysprep (tất cả các pass khác). Với các pass windowsPE và offlineServicing, file answer của bạn phải được đặt tên autounattend.xml. Còn với các pass khác, nó phải được đặt tên là unattend.xml.

Trong %SYSTEMDRIVE% (thư mục gốc của ổ đĩa hệ thống)

Thực hiện cài đặt không giám sát (Unattended Install) từ DVD


Chúng ta hãy thực hiện bằng cách sử dụng file answer cơ bản mà chúng ta đã tạo trong phần 7 của loạt bài này và xem nó có làm việc hay không. Bạn cần ba thứ để thực hiện cài đặt của mình:


Windows Vista Enterprise Edition SP1, đĩa cài DVD.
File answer autounattend.xml đã được lưu trong thư mục gốc của ổ đĩa USB.
Máy tính đích không có hệ điều hành nào được cài đặt từ trước.

Thực hiện theo các bước dưới đây để cài đặt Vista bằng phương pháp cài đặt không dự định từ DVD.


Bật máy tính đích của bạn, chèn đĩa cài đặt DVD Vista vào ổ DVD-ROM, sau đó cắm ổ đĩa USB của bạn vào một cổng USB trên máy tính.

Nhấn CTRL+ALT+DEL để khởi động lại hệ thống.

Quay trở lại và xem windowPE configuration pass đã khởi chạy và sử dụng thuật toán tìm kiếm file answer hoàn toàn của nó để tìm file autounattend.xml trong thư mục gốc của ổ USB của bạn hay không. Sau đó Setup.exe sẽ lưu file answer này và sử dụng nó để cài đặt tự động Vista trên máy tính. Trong suốt quá trình cài đặt, máy tính của bạn sẽ khởi động lại hai lần, sau đó bạn sẽ thấy màn hình như trong hình 1 bên dưới xuất hiện:



http://quantrimang.com/photos/Image/072008/31/vista2.jpg

Hình 1: Màn hình đầu tiên của máy vừa được cài đặt


Đây là màn hình đầu tiên của máy tính được cài đặt (out-of-box-experience - OOBE), hay cũng có thể là Windows Welcome, nó là mà hình đầu tiên trong loạt các màn hình dẫn người dùng đến bước cuối cùng trong việc cấu hình máy tính của người dùng trước khi có thể đăng nhập và sử dụng. Các màn hình được hiển thị bằng tiện ích Set Up Windows này yêu cầu người dùng thực hiện các nhiệm vụ dưới đây:


Chọn user name và một ảnh. Người dùng phải đánh vào một user name, password và tạo một password hint. Việc đánh vào password hint hiện vẫn được yêu cầu trong SP1 của Vista.

Đánh vào tên máy và chọn background của desktop.

Chọn một tùy chọn trên trang Help Protect Windows Automatically. Bạn nên sử dụng tùy chọn Use Recommended Settings ở đây.

Có thể xem lại và điều chỉnh các thiết lập ngày và thời gian có trong thiết lập vùng thời gian.

Chọn địa điểm hiện hành của máy tính, có thể là ở nhà, văn phòng hoặc công cộng.

Trong trang Thank You, kích Start. Một thông báo sẽ xuất hiện nói rằng “Please wait while Windows checks your computer’s performance” (Bạn hãy vui lòng đợi trong khi Windows kiểm tra hiệu suất máy tính). Khi thao tác này được thực hiện xong, màn hình đăng nhập xuất hiện, người dùng đánh vào mật khẩu, đăng nhập vào máy tính của anh ta và bắt đầu làm việc.

Những gì bên trong thời điểm sắp có máy tính OOBE như một phần của cài đặt này? Mục đích chính là cho các OEM, những người cài đặt trước Vista trên các máy tính và sau đó phân phối các máy tính này đến khách hàng. Với tư cách một khách hàng, bạn muốn một máy tính mới có username đã được cấu hình khi tên của bạn, hoặc với thiết lập thời gian vùng nơi bạn đang sống Chính vì vậy trong một kịch bản, nơi máy tính đang được chuẩn bị cho các khách hàng, một số các bước tùy chỉnh cuối cùng phải được để lại để bản thân khách hàng tự thực hiện.


Tuy nhiên điều gì sẽ xảy ra nếu bạn là một quản trị viên trong một doanh nghiệp, và bạn cần chuẩn bị một máy tính cho một người dùng trong mạng của mình? Bạn biết tên của người dùng và thời gian vùng nơi mạng của bạn được đặt ở đó – liệu có cách nào để tự động hóa quá trình Windows Welcome này để người dùng chỉ cần bật máy tính lên, đăng nhập và làm việc? Đó chính là những gì trong phần tiếp theo của loạt bài này sẽ giới thiệu cho các bạn.



(Theo Windows Networking)