Cập nhật những thông tin về HĐH Unix- Linux...cùng tham khảo và đóng góp nhé cả nhà%%-:-B
Cập nhật những thông tin về HĐH Unix- Linux...cùng tham khảo và đóng góp nhé cả nhà%%-:-B
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
giangcoiha (22-06-2008)
10 câu hỏi về LINUX
(Báo TH&ĐS)
Bạn đã nghe nói nhiều về hệ điều hành Linux, nhưng bạn chưa thực sự biết về nó . Bạn có thể bối rối trước những vấn đề như mã nguồn mở, nhà phân phối Linux, phần lõi của Linux, hay là sự hỗ trợ các driver,... Với 10 câu hỏi phổ biến nhất (FAQs) bạn sẽ thu nhận được những thông tin cơ bản nhưng cũng rất đầy đủ về hệ điều hành này . Ngay bây giờ và ngay lập tức bạn có thể bắt đầu với câu hỏi thứ nhất.
Linux là gì?
Xét về mặt kĩ thuật, Linux là một hệ điều hành đa nhiệm (multitasking OS)với nền tảng giống với Unix, ban đầu được xây dựng và phát triển bởi Linus Torvalds ở ĐH Helsinki,Phần Lan vào năm 1991, sau đó được phân phối dưới giấy phép của GNU (www.gnu.org/copyleft/glp.html ).
Nếu bạn vẫn còn băn khoăn về Linux thì những điều bạn cần biết thêm đó là Linux là một hệ điều hành mạnh, chặt chẽ, và nếu bạn thích nó sẽ là miễn phí. Thêm vào đó, Linux còn có khả năng chạy được trên hầu như tất cả các loại máy tính từ PC, Mac cho đến những hệ thống Alpha,Amigas.
Bên cạnh đó Linux còn hơn cả một chương trình miễn phí, nó là một phần mềm với mã nguồn để mở (open-source software). Điều này có nghĩa là bạn không những có trong tay một hệ điều hành mà bạn còn có thể tuỳ biến mã nguồn cho phù hợp với những ứng dụng của bạn.
Với những lợi ích như vậy, Linux đã dành được rất nhiều sự quan tâm. Trở lại thời điểm tháng 3/98, Red Hat - nhà phân phối Linux ước tính rằng có khoảng 8 triệu người dùng Linux trên toàn thế giới, và tính tới thời điểm hiện nay thì con số đó còn lớn hơn nhiều.
Máy tính của tôi có chạy được Linux?
Một điều thú vị nhất của Linux là nó chạy được với những cấu hình máy tính cấp thấp .
Với máy tính để bàn, có những phiên bản riêng của Linux cho những chip Intel(và các chip tương thích), PowerPC, Sun Sparcs, DecAlphas, và những chip khác. Điều đó cũng có nghĩa là bạn không cần phải có một hệ thống mới và mạnh nhất để chạy Linux. Linux có rất nhiều phần, do vậy nó có thể tinh giảm xuống để chạy trên các máy 386 với 150Mb ổ cứng trống và 2Mb Ram. Một số nhà phát triển còn tạo ra phiên bản Linux có thể chứa trọn vào trong một đĩa mềm (ví dụ như Linux Router Project - http://www.psychosis.com/linux-router).
Linux cũng rất "thân thiện" với các máy tính xách tay như: Apple PowerBooks, IBM ThinkPads, Toshiba Tecras (bạn có thể tìm thấy danh sách các máy xách tay được hỗ trợ, cũng như tìm thấy các thủ thuật tại Linux Online's laptop page (http://www.linux.org/hardware/laptop.html )
Linux sẽ hỗ trợ những thiết bị ngoại vi của tôi?
Câu trả lời là Có và Không. Với hầu hết những thiết bị ngoại vi thông thường như modem, máy in, cạc mạng,... đều làm việc tốt dưới Linux. Tuy vậy có vài loại thiết bị ngoại vi làm việc kém, có loại lại không làm việc. Dưới đây sẽ là một số chỉ dẫn chính .
ISA card: Với card ISA cũ, như là card điều hợp mạng NE2000, SoundBlaster16, modem US Robotics Sportster, những thứ mà bạn đã sử dụng từ lâu vẫn sẽ hoạt động một cách hoàn hảo với Linux. Sự thực đó chính là phần tạo ra cho Linux sự tuyệt vời, với hệ thống cũ vẫn chạy được hệ điều hành mới, với những phần cứng lỗi thời vẫn đạt được hiệu quả công việc.
PCI card: Theo kinh nghiệm thì những card ISA thường làm việc tốt dưới Linux hơn là những card PCI - hay ít nhất đến bây giờ. Ví dụ như nhiều PCI modem có xu hướng "Windows hóa" modem, điều đó cũng có nghĩa là chúng sẽ không thể chạy được dưới Linux. Những card âm thanh PCI mới nhất như SoundBlasterLive hay Turtle Beach Montego cũng không được hỗ trợ dưới Linux một chút nào (dù cho các nhà phát triển đang đau đầu về vấn đề này). Tuy vậy điều này cũng thúc đẩy sự ra đời một bản Linux tăng cường tính năng hỗ trợ PCI card nhiều hơn. Thời điểm hiện nay thì Linux mới chỉ hỗ trợ cho card PCI Ethernet và SCSI card. Tốt nhất bạn nên hỏi nhà cung cấp phần cứng để biết thêm chi tiết.
PnP: Trong Windows, tính năng Plug and Play giúp hệ thống của bạn có thể tự động nhận biết các thành phần phần cứng có trong máy tính, điều này giúp bạn dễ dàng sử dụng máy tính hơn. Linux cũng có thể thực hiện Plug and Play nhưng dường như tính năng này chạy không được ổn định lắm. Tính năng này sẽ phụ thuộc vào phần cứng của bạn, có thể nó sẽ thực hiện trơn tru, có thể chẳng được gì cả.
Thiết bị ngoại vi "Windows": Để hạ giá thành sản phẩm, một số nhà sản xuất bắt đầu bán ra những sản phẩm chẳng hạn như modem hay máy in như là những sản phẩm dành cho Windows. Những sản phẩm này có xu hướng rẻ hơn những sản phẩm hỗ trợ toàn diện cùng loại. Điều đó cũng có nghĩa là những sản phẩm này sẽ không làm việc được dưới Linux. Bởi những thiết bị cho Windows (ví dụ như 3Com/U.S. Robotics Winmodem và Lexmark Winwriter 200 printer) sử dụng phần mềm trên máy tính và CPU hệ thống để thực hiện công việc.
Bằng cách nào tôi có được Linux?
Lời khuyên đầu tiên: Đừng nên DOWNLOAD Linux rồi cài đặt. Hãy mua một bản copy.
Điều này thực sự có ý nghĩa đối với bạn, hãy so sánh việc download Linux từ Internet với mua một bộ LinuxCD giá $50 (mà cách này cũng chưa hay, bởi bạn có thể mua được ở những cửa hàng dịch vụ CDRom với giá khoảng 45.000đ/đĩa). Với bản LinuxCD bạn có một quyển sách hướng dẫn Linux Unleashed hoặc Linux: The Complete Reference và bản Linux đầy đủ. Với người dùng kinh nghiệm, việc cài dặt rất dễ dàng và chỉ việc làm theo các hướng dẫn trên màn hình, còn với những người dùng mới có lẽ bạn nên đọc trước tài liệu hướng dẫn.
Nhưng bạn vẫn khăng khăng muốn download Linux thì bạn sẽ có rất nhiều tuỳ chọn. Nếu bạn muốn tự xây dựng hệ điều hành của mình thì bạn có thể download phần lõi của Linux(ftp://ftp.kernel.org), rồi sau đó tự phát triển theo ý bạn. Tuy vậy cách này thực sự không hữu ích trừ phi bạn có rất nhiều thời gian rỗi và là một chuyên gia lập trình, tốt hơn bạn nên kiếm một bản Linux phân phối. Một bản phân phối sẽ bao gồm phần lõi Linux và hàng loạt các chương trình tiện ích khác chẳng hạn như trình duyệt, trình quản lý desktop, ...
Bạn có thể download Linux từ website của những nhà phân phối như Red Hat (www.redhat.com), Caldera(www.caldera.com),Debian(www.debian.org),Slackware( www.slackware.com) hoặc bạn vào Linux Online để tìm danh sách các nhà phân phối http://www.linux.org/dist/index.html). Bạn cũng nên nhớ rằng các bản Linux của từng nhà phân phối là khác nhau, ví dụ bản Linux RedHat có giao diện cài đặt rất ấn tượng, hoặc bản Linux Caldera lại hỗ trợ Nerware . Khi bạn quyết định chọn một nhà phân phối nào, bạn sẽ cần phải kiểm tra lại hướng dẫn cài đặt, bởi luôn có một số thay đổi nhỏ giữa các nhà phân phối.
Làm sao tôi có thể cài được Linux
Quá trình cài đặt Linux khá dễ dàng, mất độ 30' loại bỏ hệ điều hành cũ và cài hệ điều hành mới. Ban đầu một trình tiện ích sẽ được chạy để yêu cầu bạn nhận biết cho Linux phần cứng của bạn. Vì Linux không nhận biết được hoàn toàn các thành phần phần cứng phổ biến, nên điều tốt nhất bạn có thể làm để mọi thứ được trơn tru suôn sẻ là hãy tạo một danh sách các thành phần máy tính của bạn. Không giống như Windows có thể tự động phát hiện và cài đặt các thành phần phần cứng mà nó phát hiện được, Linux thường yêu cầu bạn phải giúp đỡ nó nhận biết.
Do vậy bạn hãy lấy giấy và ghi rõ những thứ sau:
- Tên nhà sản xuất, chủng loại CDRom và SCSi adapter (nếu bạn có)
- Loại mouse mà bạn đang sử dụng.
- Tên nhà sản xuất, chủng loại, dung lượng nhớ của card đồ họa.
- Tên nhà sản xuất, chủng loại, tốc độ làm tươi của màn hình.
- Mọi thông tin về mạng mà bạn có: địa chỉ IP, tên domain, địa chỉ gateway, địa chỉ DNS, netmask, kiểu card mạng, chủng loại modem..
Trong suốt quá trình cài đặt, Linux sẽ hỏi bạn về những thông tin này, bởi vậy nếu bạn không có thì hệ thống của bạn có thể chạy không ổn định.
Một trong những cách dễ nhất để cài đặt là bạn có thể cài đặt từ đĩa CD,. Bạn cần phải thiết lập trong BIOS chế độ cho phép khởi động máy từ chế độ CD Bootable (hầu hết những máy tính đời mới đều có tính năng này), sau đó bạn khởi động lại máy và cho đĩa CD Linux và ổ đĩa rồi làm theo các hướng dẫn cài đặt trên màn hình.
Nếu máy tính của bạn không chấp nhận CD Bootable, bạn phải copy bản CD Linux vào một thư mục trong ổ cứng rồi sau đó khởi động lại máy bằng đĩa mềm hệ thống. Trong những bản Linux thương mại của Red Hat hoặc Caldera ngoài CD Linux còn có một đĩa mềm khởi động.
Thiết lập cấu hình hệ thống cho Internet bằng Linux như thế nào?
Đối với Linux bước đầu truy cập vào mạng có khó khăn hơn chút ít so với Windows, lấy ví dụ như đối với Windows chỉ cần thao tác đơn giản là click chuột vào biểu tượng Internet Connection Wizard và theo từng bước hướng dẫn của chương trình. Linux yêu cầu bạn phải cho nó biết thông tin về kết nối mà bạn sử dụng.
Ban đầu bạn phải chắc chắn rằng khi cài Linux tất cả các thông tin cần thiết về giao thức, các module,... đã được cài đặt. Nếu cảm thấy có vấn đề gì bạn nên đọc kĩ tài liệu hướng dẫn hoặc làm theo từng bước hướng dẫn trong cuốn Linux Networking How-to.
Sau khi tất cả đã được cài đặt, bạn cần phải thiết lập kết nối Internet của bạn. PPP và ISP hookup how-to lưu giữ tất cả các chi tiết bạn phải thiết lập cho hệ thống của bạn kết nối với nhà cung cấp dịch vụ Internet(ISP).
Có một cách làm tương đối dễ hơn đấy là dùng những trình kết nối với giao diện thân thiện người dùng như X-ISP,GnomePPP, EzPPP, KPPP. Những chương trình này khá giống với tiện ích DialUp Networking(DUN) của Windows. Bạn chỉ cần nhập tên account, mật khẩu, số phone nhà cung cấp dịch vụ Internet, địa chỉ DNS và phần còn lại thì chương trình sẽ tự động hoàn thiện.
Tạo cho Linux giống Windows như thế nào?
Windows đã xuất hiện 15 năm qua, nó đã từng bước cung cấp cho người dùng giao diện sử dụng đồ hoạ thân thiện (GUI). Điều đó làm cho Linux cũng không thể không phát triển ứng dụng này cho hệ điều hành của mình. Với khá nhiều phần mềm quản trị desktop( desktop managers) đang có mặt trên thị trường, trong đó có một vài phần mềm đáng lưu tâm. KDE (K Desktop Environment) đang nghiên cứu và hoàn thiện nốt bộ công cụ hỗ trợ giao diện đồ hoạ cho Unix và Linux. Với giao diện này, người dùng có thể dễ dàng trong việc quản lí các file, menu, chạy các chương trình tiện ích. KDE có thể là nhà cung cấp tốt cho những ai muốn có giao diện đồ hoạ cho máy tính của mình.
Một vài người không thích KDE vì lí do nào đó, KDE đã xây dựng bộ công cụ thương mại có tên QT(www.troll.no). Tuy vậy những tay chuyện nghiệp về phần mềm miễn phí trong cộng đồng Linux lại không thích điều đó. Họ tự xây dựng môi trường cho mình, dẫn tới sự ra đời của GNU Network Object Model Environment (www.GNOME.org).
Tuy vậy việc lựa chọn giữa phần mềm miễn phí hay phải mua tuỳ thuộc vào bạn cần cái gì. Nhưng dẫu sao cũng thật thú vị khi làm việc với những cửa sổ mà không phải nhìn thấy logo của Microsoft.
Tôi chạy Linux với Windows có được không?
Nếu bạn muốn chạy Linux nhưng bạn phải chia xẻ máy tính của bạn với ngưới khác muốn dùng Windows, vậy phải làm cách nào? Câu trả lời là bạn hoàn toàn có thể chạy được cả hai hệ điều hành trên cùng một máy tính. Bạn cần phải thiết lập chế độ dual-boot cho phép bạn có thể quyết định chạy Linux hay Windows khi khởi động máy tính .
Bạn có thể chạy bằng cách phân vùng ổ cứng của bạn để có được cả partition của Linux và DOS (Windows) hoặc bạn phân vùng lại mà không làm mất dữ liệu, ví dụ hai chương trình System Commander Deluxe và Partition Commander có thể làm được điều đó (www.systemcommander.com). Sau đó bạn cần cài Linux vào partition Linux mới và set-up LILO(bao gồm cả Linux) hoặc bạn dùng một trình quản lí boot để cho phép bạn chọn chạy Windows hay Linux. Bạn có thể tìm hiểu được vấn đề này chi tiết hơn trong Linux and Win95 how-to (http://metalab.unc.edu/ldp/Howto/mini/Linux+Win95.html).
Nếu bạn chỉ thỉnh thoảng mới chạy những ứng dụng của Windows thì nên xem xét đến phần mềm Wine (www.winehq.com). Đây là một freeware cho phép bạn chạy được nhiều ứng dụng của Windows dưới Linux. Trong website của Wine có cung cấp những thông tin về các trình ứng dụng được hỗ trợ.
Nếu trình ứng dụng của bạn không thể chạy dưới Linux bạn có thể có lựa chọn khác là VMware for Linux. Chương trình này chạy một bản copy của Windows 3.1,95,98,NT4.0 hoặc bất kì hệ điều hành nào khác trong Linux. Sản phẩm hiện tại là bản beta, bạn có thể download về dùng thử tại địa chỉ www.wmware.com. Tuy vậy bạn cần có cấu hình tối thiểu để chạy là Pentium 64MbRam, VMware gợi ý là nên dùng Pentium II 96MbRam để đạt được hiệu quả tốt nhất. Nếu bạn ưu thích Linux nhưng không thể hoàn toàn rời bỏ được Windows thì VMware cung cấp cho bạn một sự lựa chọn tiện lợi.
Thế còn một Website trên Linux thì sao?
Internet đã cung cấp hầu hết những tính năng mạnh mà Linux có được ngày nay. Do vậy không có gì quá ngạc nhiện khi thấy có hàng tá công cụ giúp đỡ bạn quản lí Website dưới hệ điều hành.Và sự thật là giờ đây có khá nhiều ISP có server chạy Linux.
Nếu bạn muốn có một website chạy dưới Linux cách dễ nhất là bạn nên tìm một Web host có hỗ trợ Linux server chẳng hạn như CI host(www.cihost.com) hay Web Server Pro (www.webserverpro.com).
Với cách này bạn không phải giải quyết vấn đề khó khăn là duy trì server của bạn 24h/ngày và tiền bạc dành cho việc kết nối.
Một trong những phần quan trong nhất bên cạnh hệ điều hành dĩ nhiên sẽ là Web Server. Một trong những server được dùng phổ biến rộng rãi nhất hiện nay là Apache (www.apache.org). Điều nổi bật là server này có dư sức để chạy những website lớn, và dĩ nhiên nó cũng chạy được các site cá nhân. Bạn có thể tìm thấy chi tiết tất cả những hướng dẫn cài đặt và thiết lập cấu hình hệ thống bạn cần trong Apache's documentation page (http://www.apache.org/docs
Khi bạn thiết lập Web server của bạn, một điều lưu ý là bạn phải chắc chắn rằng hệ thống của bạn có thể kết nối được với mạng của bạn. Bạn cũng cần phải xây dựng một "bức tường lửa" (firewall) để bảo vệ site của bạn khỏi sự truy cập bất hợp pháp.
Tìm kiếm hỗ trợ kĩ thuật cho Linux ở đâu?
Câu trả lời là bạn có thể tìm thấy rất dễ dàng, bao gồm cả miễn phí lẫn phải trả tiền. Nếu bạn mua một bản Linux thương mại từ một nhà phân phối như Red Hat hay Caldera bạn sẽ có quyền được hỗ trợ cài đặt thông qua email trong 30 hoặc 90 ngày(cho từng bản) .
Nếu sau đó vấn đề đến với hệ thống của bạn thì sao ? Mà bạn không muốn mở hầu bao của mình để tìm kiếm sự giúp đỡ. Đối với tình huống như vậy cách hiệu quả nhất là bạn nên vào Linux Documentation Project (http://www.linuxdoc.org), tại đó có lưu giữ hàng tá các file giúp đỡ với đủ các vấn đề có thể xẩy đến với bạn.
Nhưng nếu như bạn vẫn không giải quyết được vấn đề ? Hãy cầu cứu đến những nhóm tin về Linux mà bạn có thể dễ dàng tìm thấy, thí dụ như: comp.os.linux.misc, comp.os.linux.setup, comp.os.linux.questions, và alt.os.linux. Tại đây những Linux users sẽ thấy được các bảng câu trả lời dành cho những người mới dùng Linux. Để có thể thảo luận trực tiếp với những người dùng Linux thì một trong những địa chỉ tốt nhất là Linux Online (http://www.linux.org/help/list.html) hoặc Slashdot(http//www.slashdot.org) hay Linuxberg (http://powerlinux.linuxberg.com ). ).
(Tong hop tu Internet)
thay đổi nội dung bởi: secret-ami, 22-06-2008 lúc 03:49 PM
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
Khi mở một shell, bạn cần đến tài khoản kích hoạt vào thư mục chủ (thông thường nằm trong /home/tên_người_dùng).
Chú ý rằng mỗi lệnh đều có nhiều tùy chọn riêng của mình. Để xem các tùy chọn cho một lệnh cụ thể, đơn giản bạn chỉ cần gõ "man <command>" (trong đó: man là từ khóa; command là tên lệnh). Một điểm quan trọng cần chú ý là trong các hệ điều hành Linux, câu lệnh có phân biệt chữ hoa, chữ thường. “A” sẽ được hệ điều hành hiểu là khác so với “a”.
Để vào hệ thống file, dùng:
- pwd: đưa ra ngoài màn hình thư mục đang hoạt động (ví dụ: /etc/ssh).
- cd: thay đổi thư mục (ví dụ: cd .. – ra một cấp thư mục hiện tại; cd vidu – vào thư mục /vidu).
- ls: đưa ra danh sách nội dung thư mục.
- mkdir: tạo thư mục mới (mkdir tên_thumuc).
- touch: tạo file mới (touch ten_file).
- rmdir: bỏ một thư mục (rmdir ten_thumuc).
- cp: copy file hoặc thư mục (cp file_nguồn file_đích).
- mv: di chuyển file hoặc thư mục; cũng được dùng để đặt lại tên file hoặc thư mục (mv vị_trí_cũ vị_trí_mới hoặc mv tên_cũ tên_mới).
- rm: loại bỏ file (rm tên_file).
Để tìm kiếm file, bạn có thể dùng:
- find <tiêu chuẩn tìm kiếm>: dùng cho các tên file.
- grep < tiêu chuẩn tìm kiếm>: để tìm nội dung trong file.
Để xem một file, bạn có thể dùng:
- more <tên file>: hiển thị file theo từng trang.
- cat < tên file>: hiển thị tất cả file.
- head < tên file>: hiển thị các dòng đầu tiên.
- tail < tên file>: hiển thị các dòng cuối cùng (có thể hữu ích trong những trường hợp như khi bạn muốn xem thông tin cuối cùng của một file hệ thống).
Để chính sửa file, bạn phải sử dụng trình soạn thảo tích hợp sẵn trên dòng lệnh. Thông thường, đây là vi và được dùng với cú pháp: vi <tên file>.
Để giải nén một lưu trữ (thông thường có đuôi tar.gz), bạn phải dùng lệnh tar với cú pháp tar -xvf <tên_file>.
Để in một file, dùng lệnh lpr <tên_file>. Chú ý là bạn phải có một số daemon hoạt động để quản lý máy in. Thông thường đây là các cup (chủ yếu là UNIX Printing System) có thể sử dụng cho tất cả các phân phối chính.
Để loại bỏ file khỏi hàng đợi ở máy in (bạn có thể lên danh sách hàng đợi bằng lệnh lpq), sử dụng câu lệnh lprm <tên_file>.
Để lắp hoặc gỡ bỏ thiết bị (thêm vào hệ thống file với vai trò như một phương tiện được phép sử dụng), dùng:
- mount /mnt/floppy: lắp thêm ổ mềm.
- umount /mnt/floppy: gỡ bỏ ổ mềm.
- mount /mnt/cdrom: lắp ổ CD-ROM.
- mount /mnt/cdrom: gỡ ổ DC-ROM.
Các thiết bị này thường được cài và cho phép sử dụng một cách tự động. Nhưng có thể một ngày đẹp trời nào đó bạn lại phải tự mình thực hiện công việc này khi có lỗi xảy ra. Đừng lo lắng!
Để tạo một phân vùng
Đầu tiên, tạo một thư mục trong /mnt (mkdir /mnt/ổ_đĩa_mới). Sau đó sử dụng lệnh mount (mount /dev/source /mnt/ ổ_đĩa_mới), trong đó /dev/source là thiết bị (tức phân vùng) bạn muốn lắp thêm vào hệ thống file.
Nếu muốn kết nối tới một host từ xa, sử dụng lệnh ssh. Cú pháp là ssh <tên_host>.
Quản lý hệ thống:
- ps: hiển thị các chương trình hiện thời đang chạy (rất hữu ích: ps là cái nhìn toàn bộ về tất cả các chương trình).
Trong danh sách đưa ra khi thực hiện lệnh ps, bạn sẽ thấy có số PID (Process identification - nhân dạng tiến trình).
Con số này sẽ được hỏi đến khi muốn ngừng một dịch vụ hay ứng dụng, dùng lệnh kill <PID>.
- top: hoạt động khá giống như Task Manager trong Windows. Nó đưa ra thông tin về tất cả tài nguyên hệ thống, các tiến trình đang chạy, tốc độ load trung bình… Lệnh top -d <delay> thiết lập khoảng thời gian làm tươi lại hệ thống. Bạn có thể đặt bất kỳ giá trị nào, từ .1 (tức 10 mili giây) tới 100 (tức 100 giây) hoặc thậm chí lớn hơn.
- uptime: thể hiện thời gian của hệ thống và tốc độ load trung bình trong khoảng thời gian đó, trước đây là 5 phút và 15 phút.
Thông thường tốc độ load trung bình được tính toán theo phần trăm tài nguyên hệ thống (vi xử lý, RAM, ổ cứng vào/ra, tốc độ load mạng) được dùng tại một thời điểm. Nếu tốc độ được tính toán là 0.37, tức có 37% tài nguyên được sử dụng. Giá trị lớn hơn như 2.35 nghĩa là hệ thống phải đợi một số dữ liệu, khi đó nó sẽ tính toán nhanh hơn 235% mà không gặp phải vấn đề gì. Nhưng giữa các phân phối có thể khác nhau một chút.
- free: hiển thị thông tin trên bộ nhớ hệ thống.
- ifconfig <tên_giao_diện>: để xem thông tin chi tiết về các giao diện mạng; thông thường giao diện mạng ethernet có tên là eth(). Bạn có thể cài đặt các thiết lập mạng như địa chỉ IP hoặc bằng cách dùng lệnh này (xem man ifconfig). Nếu có điều gì đó chưa chính xác, bạn có thể stop hoặc start (tức ngừng hoặc khởi_động) giao diện bằng cách dùng lệnh ifconfig <tên_giao_diện> up/down.
- passwd: cho phép bạn thay đổi mật khẩu (passwd người_dùng_sở_hữu_mật_khẩu hoặc tên người dùng khác nếu bạn đăng nhập hệ thống với vai trò root).
- useradd: cho phép bạn thêm người dùng mới (xem man useradd).
Dù ở phân phối nào, bạn cũng có thể dùng phím TAB để tự động hoàn chỉnh một lệnh hoặc tên file. Điều này rất hữu ích khi bạn quen với các lệnh. Bạn cũng có thể sử dụng các phím lên, xuống để cuộn xem các lệnh đã nhập. Bạn có thể dùng lệnh đa dòng trên một dòng. Ví dụ như, nếu muốn tạo ba thư mục chỉ trên một dòng, cú pháp có thể là: mkdir thư_mục_1 ; mkdir thư_mục_2 ; mkdir thư_mục_3.
Một điều thú vị khác nữa là các lệnh dạng pipe. Bạn có thể xuất một lệnh thông qua lệnh khác. Ví dụ: man mkdir | tail sẽ đưa ra thông tin các dòng cuối cùng trong trang xem "thủ công" của lệnh mkdir.
Nếu lúc nào đó được yêu cầu phải đăng nhập với tài khoản gốc (tức "siêu" admin của hệ thống), bạn có thể đăng nhập tạm thời bằng cách dùng lệnh su. Tham số -1 (su-1) dùng để thay đổi thư mục chủ và cho các lệnh đã hoặc đang dùng. Chú ý là bạn cũng sẽ được nhắc một mật khẩu.
(nguồn: quantrimang.com)
10 câu hỏi về LINUX (Phần 2)
Về phương diện kỹ thuật, LINUX, giống như UNIX , có các chức năng cốt lõi (kernel-based), có chế độ bảo vệ ký ức toàn phần, là một hệ điều hành đa nhiệm do tác giả Linus Torvals thuộc trường Đại Học Helsinki viết ra vào năm 1991, và phát hành theo bản quyền GNU General Public License.
Linux là một HĐH gọn nhẹ, rất mạnh, miễn phí có thể chạy trên nhiều phần cứng, từ các máy PC, Mac, cho đến Amigas, Alpha ... Linux còn là một công trình tập thể: hàng ngàn nhà phát triển trên khắp thế giới đã liên tục đóng góp các đặc tính, các cách chữa lỗi, để hoàn thiện nó.
Ngoài việc là một hệ HĐH miễn phí, LINUX còn là một phần mềm có mã nguồn mở: có nghĩa là chẳng những bạn dùng các chương trình có sẵn để chạy trên máy của mình, bạn còn có thể sửa chữa, phát triển từ bộ mã nguồn theo sở thích của bạn.
Linux đang ở thời kỳ phát triển, theo công ty Red Hat ước lượng, có khoảng 7 triệu người dùng LINUX trên khắp thế giới, và có 750.000 server đang dùng LINUX. Xin bạn phát âm là "lih-nucks".
Liệu cái máy tính của tôi có chạy được LINUX không?
Có lẽ đặc điểm vượt trội hơn hết của LINUX chính là nó chạy được trên hầu hết loại máy tính cơ bản.
Máy desktop: Bao gồm các phần cứng của Intel và Intel tương thích, các chip PowerPC, Sun Sparcs, DEC Alpha và nhiều loại khác. Bạn cũng không cần thiết phải có đời máy hiện đại nhất, mới nhất, LINUX có tính môdun cao, nếu loại bớt các thứ "phụ tùng", LINUX có thể chạy trên máy 386 và chỉ cần 150 MB đĩa trống, 2MB RAM. Một số nhà phát triển còn viết LINUX chạy từ một đĩa mềm duy nhất !
Máy laptop: Linux cũng hoạt động tốt trên nhiều laptop như Apple PowerBooks, IBM ThinkPad, Toshiba Tecras.
Điều kỳ diệu là LINUX có thể chạy cả trên Intel và Mac, ít nhất là với các phần cứng cơ bản ( bo mạch chính, bộ vi xử lý, bộ nhớ) Vấn đề có thể làm bạn đau khổ nhất đó chính là các thiết bị ngoại vi.
Liệu các thiết bị ngoại vi của tôi có hoạt động được với LINUX không?
Được và không ! Các thiết bị căn bản như modem, máy in, network adapter hoạt động với LINUX. Có thứ làm việc tốt, có thứ không tốt lắm, và có thứ hoàn toàn không. Sau đây là các nét chung:
Các card ISA cũ: Nhiều thứ hoạt động rất tốt với LINUX như Sound BLaster 16, US Robotic Sportster modem. Dùng được các món đồ cổ này chính là một ưu thế của LINUX.
Card PCI: Về nguyên tắc LINUX dung nạp card ISA tốt hơn PCI, nhiều modem PCI là Windows modem, nên chúng không thể làm việc với LINUX. Các sound card PCI đời mới như Turtle Beach Montego và Sound Blaster Live không hoạt động được với LINUX. Nhiều card Ethernet PCI là SCSI thì lại được LINUX hổ trợ. Vì thế bạn nên kiểm tra trước tại các nhà phân phối danh sách các thiết bị được LINUX hổ trợ.
Cắm là chạy: Quả thật nó làm cho cuộc sống với Windows của chúng ta tươi đẹp hơn. LINUX cũng làm được việc này, có điều đôi khi không mấy suông sẻ. Tuỳ thiết bị, có thể bạn chẳng gặp chút rắc rối nào, nhưng cũng có khi bạn cũng phải toát mồ hôi.
Ngoại vi cho Windows: Nhằm hạ giá thành, một số phần cứng được thiết kế chỉ dùng riêng cho Windows mà thôi, như modem và printer - vì thế nó sẽ không làm việc với LINUX. Lý do là vì các thiết bị ngoại vi này ( ví dụ như 3Com/U.S. Robotics Winmodem và Lexmark Winwriter 200 printer cộng sinh với các phần mềm và CPU của máy tính để hoạt động.
USB: đang phát triển mạnh, nhưng rủi thay LINUX chưa đáp ứng kịp. Nhưng ít nhất cũng đang có một nhà phát triển viết chương trình cho LINUX dùng bus này.
Tóm lại, bạn nên hỏi các nhà phân phối về danh sách các thiết bị được LINUX hổ trợ.
Làm thế nào để tải xuống chương trình LINUX ?
Lời khuyên đầu tiên dành cho bạn: Chớ nên tải xuống. Hãy mua một bản copy.
Với giá dưới 50 USD bạn có trọn bộ - đĩa CD-ROM kèm với các quyển sách kinh điển về LINUX. Các nhà phân phối LINUX có tiếng là Red Hat, Caldera, Debian. Mỗi nhà phát hành đều có ưu, khuyết điểm riêng: Red Hat khá phổ biến vì giao diện cài đặt dễ hiểu, Debian thì có đủ thứ đi kèm với LINUX dành cho bạn, còn thế mạnh của Caldera là hổ trợ mạng
Làm thế nào thể cài đặt LINUX ?
Có hai điều bạn nên ghi nhớ: LINUX yêu cầu bạn phải biết đặc tính của các phần cứng nhiều hơn là bạn tuởng đấy, và thứ hai LINUX không hổ trợ đủ mọi thiết bị bạn đã có.
Vì thế nên ghi ra giấy:
Nhà sản xuất, model, giao diện của ổ CD-ROM
Nhà sản xuất, model cũa SCSI adapter
Loại chuột bạn đang dùng
Nhà sản xuất, model, dung lượng bộ nhớ của card đồ hoạ
Nhà sản xuất, model, tốc độ làm tươi của màn hình
Các thông tin để nối mạng ( địa chỉ IP, địa chỉ gateway, địa chỉ DNS, tên domain, loại card mạng)
Cài đặt từ CD
Với máy tính của bạn có thể khởi động từÔ ổ CD-ROM thì cài đặt LINUX từ đĩa CD là cách dễ nhất. ( Xem phần thủ thuật cài đặt LINUX)
Cài đặt từ DOS
Nếu máy tính của bạn không thể khởi động từ ổ CD thì bạn phải tự tạo ra một đĩa mềm khởi động, trong có driver điều khiền CD ROM.
Làm thế nào để truy cập Internet với LINUX?
Truy cập Internet bằng LINUX sẽ gian nan hơn với Windows. Thay vì chỉ click theo các tiện ích hướng dẫn truy cập Internet kiểu Windows, LINUX đòi hỏi bạn phải hiểu nhiếu về các thông tin truy cập. Nhưng may mắn là bạn cũng có các chương trình tiện ích giúp sức.
Trước tiên phải cài đặt các giao thức, tiên ích và module để truy cập khi cài đặt LINUX. Sau đó bạn xác lập nối kết như PPP, ISP. Có các tiện ích dùng giao diện đồ hoạ giúp bạn thực hiện dễ dàng hơn, giống như Dial-Up Network trong Windows, bạn chỉ nhập ID login, password số điện thoại của nhà ISP, địa chỉ DNS ... Chương trình sẽ lo các việc còn lại cho bạn.
Thông thường các bản phát hành của LINUX có chứa đủ các tiện ích để bạn truy cập Internet. Bạn sẽ tìm thấy các giao thức, Netscape Navigator, Lynx, chương trình e-mail.
Có thể nào biến LINUX giống Windows nhiều hơn nữa không?
Quả thực cũng có nhiều thứ bạn có thể làm để biến LINUX thành ra Windows - ít ra là theo mục tiêu dễ sử dụng. Trước nhất là dùng chương trình X Windows để quản lý desktop và cài đặt các tiện ích đồ hoạ để làm cho việc điều khiển LINUX được dễ dàng hơn.
Trình quản lý desktop X Windows đã xuất hiện cách đây gần 15 năm. Nó cung cấp phần cơ bản cho các giao diện đồ hoạ cho người dùng LINUX. Cơ bản có nghĩa là bạn cài đặt một "serverX" để nó nhận biết và hiển thị các kkả năng đổ hoạ mà bạn có trên hệ thống, cho nên có nhiều điểm làm cho nó giống Windows hơn. Có độ hơn một chục tiện ích loại này, nhưng gần đây chương trình K Desktop Environment (KDE) tạo nên một bộ dụng cụ đồ hoạ cho UNIX và LINUX. Với cách quản lý file theo đồ hoạ , các menu dể xác lập, dễ cài đặt các tiện ích KDE có thể trở thành một tính hiệu tốt lành cho những ai thích làm việc với các giao diện đồ hoạ trên màn hình của mình.
Một phần mềm miễn phí và thân thiện với người dùng
Một số người không thích KDE vì một yếu tố triết lý: KDE dùng một bộ công cụ viết giao diện đồ hoạ có tính thương mại là Qt. Những tín đồ quá khích của LINUX muốn viết các phần mềm từ một môi trường riêng cho LINUX, miễn phí. Vì thế GNU Network Object Model Environment (GNOME) đã ra đời.
Việc chọn lựa loại phần mềm nào là còn tuỳ thuộc mức độ tin cậy của bạn. Nhưng chắc chắn các thứ này sẽ tạo cho bạn một LINUX trông giống như người bạn cũ Windows của chúng ta, chỉ có điều không có logo của Microsoft.
Làm thế nào để tôi có thể chạy LINUX cùng với Windows?
Bạn hoàn toàn có thể dùng LINUX đồng thời chia sẻ máy tính với những ai còn ái mộ Windows, vì bạn có thể chạy hai HĐH này trên cùng một máy tính. Bạn phải dùng kiều "khởi động chọn lựa", chạy Windows hay LINUX ngay khi boot máy. ( chương trình LILO kèm theo Red Hat LINUX)
Còn nếu thỉng thoảng mới chạy Windows, bạn có thể chọn Wine. Tiện ích miễn phí này cho phép nhiều chương trình ứng dụng Windows chạy dưới LINUX. Trang chủ của Wine cung cấp các thông tin cần thiết về các ứng dụng nó có hổ trợ, bạn có thể tham khảo trước khi quyết định.
Chạy Windows trong LINUX
Còn một tuỳ chọn khác: WMware for LINUX cho phép chạy Windows 3.1, 95, 98, NT 4.0 trong LINUX. Bạn cần Pentium với tối thiểu 64 MB RAM (WMware đề nghị Pentium II, 96MB RAM).
Đây là giải pháp lý tưởng cho những ai yêu thích LINUX nhưng chưa đủ can đảm để đoạn tuyệt với Windows.
Làm thế nào để tôi có thể chạy Web site của tôi trên LINUX?
Internet cung cấp hầu hết động lực cho LINUX có được ngày hôm nay, cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi có vô số công cụ giúp các bạn soạn và chạy một Web site chạy trên LINUX. Thực tế đang có rất nhiều ISP dùng LINUX chạy trên server của họ. Nếu bạn định thiết kế một trang Web chạy trên LINUX, hãy tìm các trang chủ có server chạy LINUX như CI Host và Web Serve Pro
Chọn một Web server
Một việc quan trọng khác ngoài HĐH, đó là Web server. Thường chương trình Apache là phổ biến nhất. Đây là một chương trình server rất mạnh mà các công ty về Web sử dụng để tải các trang Web.
Làm thế nào để có thể nhận được các hổ trợ kỹ thuật của LINUX ?
Có đủ loại hổ trợ về LINUX, miễn phí hoặc mất tiền cho bạn. Nếu bạn mua một bản phát hành thương mại của Red Hat hay Caldera, bạn có sự hổ trợ qua e-mail từ 30 đến 90 ngày.
Ngoài ra bạn có vô số thông tin miễn phí loại " làm thế nào để..." trên LINUX Documentation Project, trả lời cho mọi loại thắc mắc của bạn về LINUX. Ngoài ra các công ty cũng có hình thức giải đáp qua điện thoại có trả tiền. Yahoo còn cung cấp cho bạn địa chỉ các nhóm dùng LINUX trên toàn thế giới sẵn sàng hổ trợ cho các tân binh như bạn.
Theo CNET - Special Reports
thay đổi nội dung bởi: secret-ami, 22-06-2008 lúc 03:50 PM
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
CÀI ĐẶT HỆ ĐIỀU HÀNH LINUX REDHAT 8.0
1. Một số điều lưu ý trước khi cài:
Để cài RedHat 8.0 chạy trơn tru thoải mái, bạn cần có hệ thống PII, 64MB Ram trở lên, và phân vùng ổ cứng dành để cài Linux cần khoảng 2GB trở lên. Tuy nhiên không có gì cản trở bạn cài Linux trên một hệ thống có cấu hình thấp hơn, nhưng khi đó bạn chỉ có thể chạy với các ứng dụng hạn chế trên hệ thống.
· Nên tìm hiểu thông số cấu hình của hệ thống trước khi cài đặt. Điều này rất quan trọng, giúp bạn thuận lợi trong quá trình cấu hình hệ thống sau khi cài đặt. Bạn sẽ phải lựa chọn cho đúng thông số của các linh kiện phần cứng trong quá trình cấu hình hệ thống như: loại card màn hình, loại màn hình( tần số quét ngang, dọc), card mạng, card âm thanh. v.v.
· Cần chuẩn bị phân vùng đĩa còn trống để cài Linux. Linux cần tối thiểu hai phân vùng là Linux Native (ext3) và Linux swap. Đơn giản, bạn có thể dùng Partition Magic để phân chia đĩa.
§ Một partition là Linux native ext3. Cần khoảng 2GB trở lên để cài Linux, bao gồm cả KDE và Gnome, các tiện ích đồ họa, multimedia, và lập trình. Tối thiểu bạn cần 400MB và cài toàn bộ là 4,5GB.
§ Một partition là Linux swap, là phân vùng tráo đổi của Linux dành cho việc sử dụng bộ nhớ ảo, làm không gian trao đổi. Thông thường, dung lượng bộ nhớ ảo tối ưu sẽ gấp đôi dung lượng bộ nhớ RAM của hệ thống.
2. Bắt đầu cài đặt:
Cách đơn giản và thông dụng nhất để cài Redhat Linux là cài đặt từ bộ CDROM:
Khởi động hệ thống từ bộ đĩa CD cài đặt ( CD số 1), và nhấn Enter từ dấu nhắc khởi động để mặc định cài đặt theo chế độ đồ hoạ. Chương trình cài đặt sẽ tự động dò thông số của bàn phím, chuột, card màn hình, màn hình và sau đó đi vào quá trình cài đặt. Thông qua từng bước wizard để bạn chọn các thông số về hệ thống như bàn phím, chuột, ngôn ngữ trong quá trình cài đặt, giờ hệ thống.
a. Chọn kiểu cài đặt:
- Personal Desktop: dành cho người mới bắt đầu với Linux hoặc cho những hệ thống desktop cá nhân. Chương trình cài đặt sẽ chọn lựa những gói phần mềm cần thiết nhất cho cấu hình này. Dung lượng đĩa cần cho kiểu cài đặt này chiếm khoảng 1,5GB, bao gồm cả môi trường đồ hoạ.
- WorkStation: dành cho những trạm làm việc với chức năng đồ hoạ cao cấp và các công cụ phát triển.
- Server: cài đặt hệ thống đóng vai trò máy chủ như webserver, ftpsever, SQL server.v.v.
- Custom: đây là lựa chọn linh hoạt cho bạn trong quá trình cài đặt. Bạn có thể chọn các gói phần mềm, các môi trường làm việc, boot loader tuỳ theo ý bạn.
b. Thiết lập phân vùng cài Linux:
Đây là quá trình nhạy cảm nhất và nguy hiểm nhất trong quá trình cài đặt, vì chỉ cần bất cẩn chọn sai thì dữ liệu trên ổ cứng của bạn có thể bị mất sạch.
Chức năng “automatic partition” sẽ giúp bạn tự động tạo các phân vùng cho Linux. Hãy cẩn thận nếu bạn chọn option “remove all partition on this system”, vì như thế tất cả các phân vùng trên ổ cứng của bạn đều bị xoá. Option “remove all Linux partition on this system” sẽ chỉ xoá các phân vùng của Linux mà thôi
Ở đây, để thuận tiện thì bạn có thể dùng Partition Magic để phân chia đĩa trước. Tới giai đoạn này chỉ là công việc tạo định dạng cho phân vùng cài đặt mà thôi. Tuy nhiên bạn vẫn có thể thao tác phân chia phân vùng cài đặt dễ dàng với Disk Druid.
Thông thường, bạn nên chọn “ Manually partition with Disk Druid ” để tạo các phân vùng:
· Một phân vùng chứa mount point là “/”, có kiểu file hệ thống là Linux Native ext3.
· Một phân vùng swap cho Linux, kiểu của phân vùng này là Linux swap, kích thước tối ưu là gấp đôi dung lượng RAM của hệ thống hiện tại.
Các button trên màn hình giao diện cho phép bạn thao tác phân chia và định dạng phân vùng. Nút New, Delete để tạo mới hay xoá một phân vùng. Nút Edit để định dạng phân vùng đó, có kiểu là gì (ext3, swap, fvat…), qui định lại kích thước, là thư mục gì trong hệ thống phân cấp bộ nhớ.
Bạn có thể Reset quá trình thao tác nếu chưa thoả mãn yêu cầu của mình, chưa có một thay đổi nào được thực hiện cho đến khi bạn hoàn thành công việc với Disk Druid.
c. Cách quản lý đĩa trong Linux:
Trong cấu trúc cây thứ bậc của Linux, cao nhất là “/”, dưới đó là /boot, /etc, /root, /mnt .v.v.
Đối với Linux, mọi thiết bị phần cứng đều được coi như file hoặc thư mục nằm trong hệ thống phân cấp cây thư mục. Chẳng hạn hệ thống của bạn có hai ổ cứng thì đĩa cứng thứ nhất là /dev/had, ổ cứng thứ hai là /dev/hdb. Trong cùng một ổ dĩa, các hệ thống file được chia thành các phân vùng khác nhau. Một ổ cứng có 4 phân vùng chính (primary) được đánh số thứ tự từ 1 đến 4. tương ứng với ổ cứng đầu tiên sẽ là hda1, hda2 .v.v, phân vùng thuộc phần mở rộng (extended) được đánh số bắt đầu từ số 5: ví dụ hda5, hda6 …
d. Cài đặt boot loader
Đây là chương trình dùng để khởi động Linux cũng như các hệ điều hành khác (dual boot) khi bạn có nhiều hơn một hệ điều hành được cài trên hệ thống. Grub là boot loader mặc định khi cài RedHat 8.0. Đây là chương trình rất mạnh và uyển chuyển. Grub tự động dò các hệ điều hành hiện có trên hệ thống và thêm vào trong danh sách khởi động. Các tuỳ chọn trên màn hình tương đối dễ hiểu.
Với tuỳ chọn “ configure advance boot loader option” cho phép bạn chọn việc cài grub lên đâu trong ổ cứng:
Nếu chọn Grub để khởi động hệ thống , grub sẽ được cài lên Master boot record ( /dev/hda).
Nếu chọn một chương trình khác để khởi động như system commander chẳng hạn, bạn hãy chọn cài grub lên “first sector of boot partition”. Như vậy, system commander sẽ tự động nhận ra Linux và thêm vào mục nhập khởi động cho Linux.
e. Cấu hình account:
Việc cấu hình acount dùng để thiết lập mật khẩu root và có thể tạo thêm các account khác để log in vào hệ thống khi việc cài đặt hoàn tất.
Tài khoản root là tài khoản có quyền cao nhất trong hệ thống. Bạn có thể cài đặt, cấu hình hệ thống hay làm mọi chuyện một khi đăng nhập vào hệ thống với tài khoản này.
f. Các lưu ý lựa chọn gói phần mềm cài đặt:
Với Redhat 8.0, việc chọn các gói phần mềm để cài đặt được thực hiện rất thuận tiên khi các gói phần mềm được gom lại thành nhóm. Có thể chọn cài các gói phần mềm ngay lúc này các gói cần thiết hoặc có thể cài thêm sau khi hoàn tất cài đặt.
Bạn chọn mục “select individual package” để cài thêm các gói mà mặc định sẽ không cài cho bạn. Ví dụ như mc (Midnight Commander, tương tự NC trong DOS). Sau khi lựa chọn xong, chương trình cài đặt sẽ duyệt các gói phụ thuộc để bạn cài thêm.
Trong suốt quá trình chọn gói phần mềm cài đặt, bạn được thông báo dung lượng cần để cài đặt. Nên chú ý để không vượt quá dung lượng phân vùng mà bạn đã dành cho Linux trong quá trình chọn lựa. Một điều chú ý là bạn nên cài các programming develop và kernerl source, các thư viện lập trình để thuận tiện cho việc sau này cần biên dịch lại nhân hệ điều hành hoặc cài đặt và biên dịch phần mềm và driver cho hệ thống.
g. Cấu hình X
Để làm việc được với giao diện đồ hoạ, bạn cần cấu hình cho X Window. Nếu may mắn, card đồ hoạ và màn hình của bạn sẽ nằm trong danh sách được Linux hỗ trợ. Còn nếu không, cách chắc chắn với loại card đồ họa để chạy được là chọn loại vesa. Về màn hình, Linux sẽ tự dò cho bạn hoặc bạn sẽ cấu hình bằng tay việc chọn tần số quét cho màn hình. Hãy cẩn thận vì quá trình này dễ làm hỏng màn hình và card đồ hoạ của bạn. Đây chính là lý do bạn cần nắm vững thông số của các linh kiện phần cứng.
Nếu không cần Linux tự dò tìm và cấu hình dùm bạn, bạn có thể mở file /etc/X11/XF86Config (hoặc XF86Config-4) để cấu hình bằng tay.
Sau khi nhấn nút test để kiểm tra hệ thống có chạy tốt với chế độ đồ họa chưa, nếu mọi việc suôn sẻ, chúc mừng bạn đã hoàn tất quá trình cài đặt Linux.
Lưu ý về card đồ họa
Mặc dù Linux nhận dạng và hỗ trợ đúng nhiều loại card đồ hoạ được sản xuất trong 2 năm gần đây, sau khi cấu hình, card đồ hoạ vẫn chạy với bus PCI cho dù card đồ họa của bạn là loại AGP, và bạn vẫn chưa tận dụng được các chứng năng đồ hoạ 3D cao cấp của nó. Lý do là các nhà sản xuất linh kiện vì lý do bảo mật và bản quyền nên chưa hỗ trợ cho các nhà phát triển Linux. Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà sản xuất phần cứng đã bắt đầu hỗ trợ driver cho các linh kiện của mình trên các hệ thống Linux. Chẳng hạn với nhà sản xuất Nvidia, bạn có thể tải driver của nó thông qua www.nvidia.com hoặc ftp://download.nvidia.com/XFree86_40/1.0-3123. Các game 3D chạy với hình ảnh rất mịn màng không thua kém gì trên MS Window sau khi bạn đã cài driver cho hệ thống.
theo Le Hoan PC
thay đổi nội dung bởi: secret-ami, 22-06-2008 lúc 03:51 PM
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
Mạng và Linux
PCWorld VN 10/99
Làm việc nhiều với mạng, chắc chắn bạn càng nghe nói nhiều về Linux - hệ điều hành trẻ trung đầy sinh lực mà thời gian gần đây đã được cho là đối thủ cân tài, cân sức với Microsoft Windows NT. Do là hệ điều hành cho nhiều người sử dụng, với phần nhân (kernel) được thiết kế chức năng mạng ngay từ ban đầu nên Linux là ứng cử viên hệ điều hành mạng sáng giá.
Vì thế hãy xem xét Linux khi bạn đang dự định thiết lập một mạng máy tính nghiêm túc, đó là chưa kể chi phí cho mạng này rất thấp. Ngoài ra, sự hỗ trợ của Linux cho X Windows cho phép bạn sử dụng được hầu hết những ứng dụng X có trên Internet: trình duyệt Netscape như Navigator và Communicator, hoặc X11amp MP3. Đúng vậy, bạn có thể đã có những ứng dụng này trên Windows, nhưng kinh nghiệm Internet của bạn sẽ tiến nhanh hơn bằng con đường Linux. Tính ổn định và sức đề kháng tốt cũng là hai yếu tố khiến Linux trở thành hệ điều hành cao cấp dành cho những tác vụ quan trọng - vượt hơn hẳn Windows.
Thoạt đầu Linux làm bạn ái ngại, nhất là khi so sánh với vẻ thân thiện, khả ái, cắm-là-chạy (plug and play) của môi trường Windows 95/98. Cần khẳng định là cài đặt và sử dụng Linux không dễ dàng song cũng không quá khó như một số người thường nghĩ. Hơn nữa, yếu tố miễn phí cũng đáng quan tâm đấy chứ! Và chưa hết, nếu đang làm việc trong môi trường mạng, sự hiểu biết về Unix sẽ giúp ích cho công việc của bạn, và nhờ Linux, việc tìm hiểu về một hệ điều hành thông dụng sẽ đỡ nhọc công hơn.
Linux - hệ điều hành linh hoạt
Linux có đáp ứng được những tiêu chuẩn CNTT về mặt thương mại? Nó có đủ sức mạnh và tính linh hoạt cần thiết? Hiển nhiên, khả năng tính toán xí nghiệp với Linux là một chủ đề lớn, trong khuôn khổ giới hạn của bài báo này thì chỉ xin nêu một vài điểm nổi bật mà thôi.
Đầu tiên, Linux là hệ điều hành thích hợp cho máy trạm và tùy thuộc vào cách thức xác lập cấu hình, Linux thỏa mãn được những yêu cầu chuyên biệt cho thương mại. Linux có thể sử dụng làm môi trường phát triển, hub truyền thông, và với những ứng dụng chạy trên X Windows, nó có thể đảm nhận cả vai trò một máy để bàn truyền thống.
Hai là, có một thứ mà Linux có thể thực hiện tốt hơn những hệ thống khác, đó là khả năng phục vụ. Với những tính năng truyền thông và mạng cực mạnh, Linux là hệ điều hành server lý tưởng cho môi trường tính toán xí nghiệp.
Linux - server quản lý tập tin và in ấn
Linux được phân phối cùng với SAMBA - bộ giao thức SMB miễn phí - cho phép truy cập tập tin và máy in trên máy Linux từ máy trạm DOS, Win95, Win98 và Windows NT trên mạng cục bộ. Điều này có nghĩa là Linux hoạt động như một file server. Một tính năng tuyệt vời khác là có thể cấu hình SAMBA để quản trị bảo mật: hoặc thông qua những chức năng gốc của Unix, hoặc bằng server password (Windows NT). SAMBA còn cung cấp phần mềm cho client, cho phép máy trạm Linux truy cập tập tin trên máy Windows.
Linux - server thư điện tử
Ngay cả khi bạn không muốn kết nối mạng LAN với Internet, đây cũng vẫn là lựa chọn thú vị do Linux có nhiều phần mềm về truyền thông thích hợp để bạn xây dựng mạng Intranet cộng tác mà không phải mất thêm phí tổn phần mềm. Dịch vụ đơn giản nhất có lẽ là sendmail - chương trình phục vụ mail truyền thống của Unix, cho phép gửi email trên mạng cộng tác hoặc Internet. Với hệ thống mail cho xí nghiệp, bạn chỉ cần tạo lập các tài khoản người dùng và chương trình nhận mail cho những máy trên mạng LAN.
Trong mạng Intranet phức tạp hơn, có lẽ bạn còn muốn triển khai những dịch vụ ftp, Usenet và Web server. Có rất nhiều phần mềm Web server miễn phí, và còn kèm theo ngay trong bản Linux của bạn (có thể là httpd). Một Web server thông dụng nữa là Apache, bạn có thể tải chương trình này tại địa chỉ http://www.apache.org/.
Linux - server cho WAN hoặc gateway
Thông thường, mọi sự trở nên phức tạp và tốn kém hơn nếu bạn đi quá giới hạn của LAN. Tuy nhiên, việc kết nối mạng diện rộng (WAN) với Linux chỉ là một sự mở rộng chức năng LAN. Thông thường, bạn có thể triển khai PPP bằng kết nối thông qua modem hay tân tiến hơn thì bằng đường dây thuê bao và kết nối ISDN. Linux có cả PPP và SLIP, hỗ trợ bức tường lửa, che chắn IP (IP masquerading), giấu password (nhằm tăng cường chống bẻ khóa, tập tin lưu trữ password sẽ được đặt tại /etc/shadow thay vì /etc/passwd), NFS và NIS - là những điểm bắt đầu khá tốt với WAN.
Nếu say mê Internet, hẳn bạn đã nghe nói đến TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol), bộ giao thức này cung cấp nền tảng phần mềm cho các hệ thống mạng máy tính liên kết với nhau trên khắp Internet. Linux sử dụng bộ giao thức chuẩn TCP/IP, bộ giao thức truyền thông Unix-Unix, thường được gọi là UUCP (Unix to Unix Copy Protocol) - và nhiều phương thức truyền thông qua cổng tuần tự khác.
Tính năng mạng của Linux rất linh động, cho phép cấu hình hệ thống mạng với quy mô từ mạng SME LAN cho đến mạng cộng tác trải rộng khắp thế giới. Bạn cũng nên biết rằng TCP/IP đã được sử dụng gần 2 thập kỷ qua và có hàng triệu người dùng hiện còn tin tưởng vào bộ giao thức này. Vì thế, nó rất thích hợp với môi trường cộng tác và những ứng dụng then chốt. Hơn nữa, Linux hỗ trợ đầy đủ cho TCP/IP cùng với những tính năng cao cấp như bức tường lửa, che chắn địa chỉ IP.
Trong môi trường quy mô trung bình, bước đầu đến với mạng có lẽ là kết nối một máy đơn Linux với Internet. Điều này thực hiện khá dễ dàng nếu bạn có modem và tài khoản dial-up tới một nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) nào đó: xác lập dịch vụ PPP (Point-to-Point Protocol) và chọn tùy chọn TCP/IP trong khi cấu hình phần nhân Linux. Trong một số trường hợp, bộ giao thức cũ SLIP vẫn được sử dụng thay vì PPP, nhưng có nhiều nhà cung cấp dịch vụ vẫn đưa ra loại tài khoản SLIP được triển khai trên nền phần mềm mô phỏng PPP, vì vậy, bạn vẫn có khả năng sử dụng PPP trên máy trạm. Phần khó khăn nhất có lẽ là xác lập PPP ở máy trạm kể cả sửa đổi lại một số tập tin cấu hình trong thư mục /etc/ppp. Còn một cách khác là sử dụng chương trình linuxconf để cấu hình tính năng dial-out của PPP hay SLIP.
Chưa hết: bạn có thể cấu hình máy Linux thành trạm gateway Internet trong mạng LAN của bạn. Điều này có nghĩa là cho phép nhiều máy cùng sử dụng và chia sẻ một tài khoản Internet - một ý tưởng rất tuyệt nếu bạn dự định sử dụng chung truy cập Internet cho 2 hoặc 3 máy. Có thể cấu hình Linux thành một server SLIP hay PPP để truy cập bằng modem, hay thậm chí thành hẳn một nút Internet thực sự.
Hầu hết người dùng cộng tác đều quan tâm đến việc có một mạng LAN, để tập trung và chia sẻ những dữ liệu quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi trong truyền thông nội bộ. Kết nối nhiều máy Linux thành một mạng LAN không khó khăn lắm: mỗi máy chỉ cần một card Ethernet, dây cáp thích hợp và một vài thiết bị mạng như hub Ethernet.
Linux hỗ trợ nhiều card mạng Ethernet (như 3Com, D-Link,...), tự động nhận ra cấu hình của card LAN vào lúc khởi động để khởi tạo lớp phần mềm giao tiếp mạng theo đúng cấu hình này. Mỗi máy cần có một địa chỉ IP và tên máy chủ (host name) riêng để giao tiếp với nhau trên mạng (điều này cũng giống như kiểu cấu hình được sử dụng trên những mạng Windows).
Sau khi đã thiết lập mạng xong, bạn có thể sử dụng rất nhiều ứng dụng mạng có sẵn như mail, chương trình đọc tin (elm, pine, rn, nn, và tin) được sử dụng với mail server (sendmail) và news server NNTP. Một số công cụ thông dụng khác như telnet hoặc rlogin cho phép bạn đăng nhập và thi hành các lệnh trên một máy khác; FTP (File Transfer Protocol) để truyền tập tin giữa các máy trên mạng; finger để tìm kiếm thông tin về người dùng trên mạng cục bộ hay Internet. Bạn sẽ kinh ngạc về khối lượng thông tin đồ sộ "nhặt" được chỉ bằng một lệnh finger đơn giản. Người dùng cộng tác cũng muốn có một cơ sở dữ liệu cho phép chia sẻ thông tin tập trung chẳng hạn như dữ liệu khách hàng, danh mục sản phẩm, đơn đặt hàng, hoá đơn, ... Linux cung cấp một hệ thống ổn định và đáng tin cậy cho loại ứng dụng này. Trong hệ thống client/server, máy trạm gửi yêu cầu về cơ sở dữ liệu đến server Linux và sẽ nhận được kết quả dưới dạng thức SQL. Kỹ thuật này làm giảm lưu lượng trên mạng xuống mức thấp nhất và phân bố tải một cách cân bằng giữa những máy trạm.
Linux được phân phối cùng với NFS (Network File System), một hệ thống file phân bố cho phép chia sẻ tập tin trên toàn bộ mạng Linux, nghĩa là việc truy cập tập tin ở máy khác được thực hiện như thể chúng đang được lưu trữ trên đĩa cứng cục bộ. Ngoài ra còn có NIS (Network Information Service), cho phép hệ thống tự động thu thập thông tin về tài khoản người dùng, nhóm, đặc quyền truy cập, và thông tin từ những server khác trên mạng. Nói tóm lại, NFS và NIS cho phép nhiều server Linux, mạng LAN, WAN hoạt động như một hệ thống nhất.
Cuối cùng, có nhiều bộ phần mềm gắn liền với Linux, được dùng để xây dựng các "mạng tạp chủng". Những bộ phần mềm này tích hợp server Linux trong một mạng gồm các client với nhiều hệ điều hành khác nhau như Windows 3.1, Windows 95, NT, Novell, và Macintosh. Với bộ giao thức SAMBA, Linux có thể cung cấp dịch vụ file và in ấn. SAMBA cho phép máy Windows tìm duyệt và truy cập tập tin thông qua Windows Explorer và File Manager. Chương trình Mars NetWare Emulator cung cấp những chức năng của một file server Netware cho máy trạm chạy DOS và Windows (bạn có thể tải xuống từ địa chỉ http://www.compu-art.de/mars_nwe). Và giờ đây là thời điểm đúng đắn nhất nếu bạn đang có một mạng Novell hoặc dự định cài đặt trong tương lai gần.
theoTrần Đình Thắng
PCW Singapore 8/1999
thay đổi nội dung bởi: secret-ami, 22-06-2008 lúc 03:51 PM
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
Tăng cường an ninh cho hệ thống Linux (Phần 1)
By ThanhNL
Linux đã tạo ra một sự bùng nổ trong lĩnh vực tin học và ngày càng trở nên phổ biến hiện nay. Rất nhiều các công ty, tổ chức trên thế giới chấp nhận Linux như là một platform cho sản phẩm của họ, cũng như nhiều công ty, ISPs sử dụng máy chủ Linux như là các Internet gateway. Vấn đề an toàn an ninh cho hệ thống Linux ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết hơn. Tài liệu này sẽ cho bạn một cái nhìn tổng quát về an toàn hệ thống và những hướng dẫn giúp tăng cường mức độ an toàn cho hệ thống Linux của bạn. (Tài liệu này được báo cáo tại hội thảo Linux Việt Nam vào tháng 12/2000 nên có một số phần đã cũ so với hiện nay.)
GIỚI THIỆU
Cùng với sự phát triển không ngừng của truyền thông kỹ thuật số, Internet và sự phát triển nhảy vọt của nền công nghiệp phần mềm, bảo mật máy tính là một vấn đề ngày càng trở nên quan trọng. Cần phải hiểu rằng không có hệ thống máy tính nào là an toàn tuyệt đối. Tất cả những gì bạn có thể làm là giúp cho hệ thống của bạn trở nên an toàn hơn.
Kể từ khi Linux được phát triển một cách rộng rãi và nhanh chóng, đặc biệt là trong các giao dịch kinh doanh quan trọng, an ninh là một vấn đề quyết định sự sống còn của Linux. Với hàng trăm công cụ bảo vệ sẵn có, người dùng Linux được trang bị tốt hơn để ngăn chặn và duy trì một hệ thống an toàn. Linux không những hoạt động tốt mà còn có những tính năng và sản phẩm liên quan cho phép xây dựng một môi trường tương đối an toàn.
NHỮNG NGUY CƠ AN NINH TRÊN LINUX
Linux và các ứng dụng trên nó có thể không ít các lỗ hổng an ninh hơn những hệ điều hành khác. Theo quan điểm của một số chuyên gia máy tính, Linux có tính an toàn cao hơn các hệ điều hành của Microsoft, vì các sản phẩm của Microsoft không được xem xét kỹ lưỡng và chặt chẽ bằng các sản phẩm mã nguồn mở như Linux. Hơn nữa, Linux dường như là "miễn nhiễm" với virus máy tính (hiện tại đã có xuất hiện một vài loại virus hoạt động trên môi trường Linux nhưng không ảnh hưởng gì mấy đến người dùng Linux). Nhưng một hệ thống Linux được cấu hình không tốt sẽ tệ hơn nhiều so với một hệ thống Microsoft được cấu hình tốt !!! Khi có được một chính sách an ninh tốt và hệ thống được cấu hình theo đúng chính sách đó thì sẽ giúp bạn tạo được một hệ thống an toàn (ở mức mà chính sách của bạn đưa ra).
Nhưng sự an toàn không phải là thứ có thể đạt được như một mục tiêu cuối cùng. Đúng hơn đó là tập hợp của những cách cài đặt, vận hành và bảo trì một hệ điều hành, mạng máy tính, ... Nó phụ thuộc vào các hoạt động hàng ngày của hệ thống, người dùng và người quản trị. Bạn phải bắt đầu từ một nền tảng ban đầu và từ đó cải thiện tính an toàn của hệ thống của bạn nhiều nhất có thể được mà vẫn đảm bảo các hoạt động bình thường của hệ thống.
XEM XÉT CHÍNH SÁCH AN NINH CỦA BẠN
Kết nối vào Inernet là nguy hiểm cho hệ thống mạng của bạn với mức an toàn thấp. Từ những vấn đề trong các dịch vụ TCP/IP truyền thống, tính phức tạp của việc cấu hình máy chủ, các lỗ hổng an ninh bên trong quá trình phát triển phần mềm và nhiều nhân tố khác góp phần làm cho những hệ thống máy chủ không được chuẩn bị chu đáo có thể bị xâm nhập và luôn tồn tại những nguy cơ tiềm tàng về vấn đề an toàn trong đó.
Mục đích của một chính sách an toàn hệ thống là quyết định một tổ chức sẽ phải làm như thế nào để bảo vệ chính nó. Để có được một chính sách an ninh hiệu quả, người xây dựng các chính sách này phải hiểu và có thể kết hợp tất cả các thông tin, yêu cầu, ...
Khi một tình huống xảy ra nằm ngoài dự kiến, chẳng hạn một sự xâm nhập trái phép vào hệ thống của bạn, câu hỏi lớn nhất là "sẽ phải làm gì đây ?"
Không may là có hàng triệu câu trả lời khác nhau cho câu hỏi đó. Nếu một người mà chưa từng phải đối phó với một kẻ xâm nhập trước đây thì kẻ xâm nhập có thể dễ dàng biến mất vì các dấu vết đã trở nên qúa cũ và không còn hữu ích nữa.
Những sai sót trong chính sách an ninh không chỉ liên quan đến những kẻ xâm nhập, mà còn liên quan đến những vấn đề bình thường như thời tiết, thiên tai, cháy, nổ, hư hỏng thiết bị,... Do vậy, việc thiết lập một chính sách an ninh tốt cho việc giải quyết những sự cố phải được lên kế hoạch kỹ lưỡng, được xem xét và chứng nhận bởi người có quyền hạn trong công ty.
Một chính sách an ninh tốt nên bao gồm các vấn đề sau :
Chính sách phục hồi dữ liệu khi có sự cố
Chính sách phục hồi hệ thống trong trường hợp hư hỏng thiết bị
Chính sách, cách thức điều tra những kẻ xâm nhập trái phép
Chính sách, cách thức điều tra khi công ty bị cáo buộc xâm nhập vào các hệ thống khác
Cách thức, quy trình và nơi thông báo sự xâm nhập trái phép từ bên ngoài hay gây ra bởi các nhân viên của mình.
Chính sách an ninh về mặt vật lý của hệ thống
...
Bạn có thể nhờ tư vấn của các công ty, tổ chức làm dịch vụ tư vấn về an toàn máy tính để giúp bạn xây dụng một chính sách an ninh tốt. Các công ty này có các chuyên gia về an toàn máy tính, họ có sẵn các biểu mẫu chính sách an ninh nên có thể thiết lập nhanh chóng các chính sách mà bao gồm tất cả các mặt trong việc an toàn hệ thống máy tính.
TĂNG CƯỜNG AN NINH CHO KERNEL
Mặc dù thừa hưởng những đặc tính của hệ thống UNIX và khá an ninh hơn một số hệ điều hành khác, hệ thống GNU/Linux hiện nay vẫn tồn tại những nhược điểm sau:
Quyền của user ‘root’ có thể bị lạm dụng. User ‘root’ có thể dễ dàng thay đổi bất kỳ điều gì trên hệ thống.
Nhiều file hệ thống có thể dễ dàng bị sửa đổi. Nhiều file hệ thống quan trọng như /bin/login có thể bị sửa đổi bởi hacker để cho phép đăng nhập không cần mật khẩu. Nhưng những file loại này lại hiếm khi nào thay đổi trừ phi khi nâng cấp hệ thống.
Các module có thể được dùng để chặn kernel. “Loadable Kernel Module” là một thiết kế tốt để tăng cường tính uyển chuyển, linh hoạt cho kernel. Nhưng sau khi một module được nạp vào kernel, nó sẽ trở thành một phần của kernel và có thể hoạt động như kernel nguyên thủy. Vì vậy, các chưng trình mục đích xấu có thể được viết dạng module và nạp vào kernel, rồi sau đó hoạt động như một virus.
Các process không được bảo vệ. Các process như web server có thể trở thành mục tiêu bị tấn công của hacker sau khi thâm nhập hệ thống.
Để cải thiện tính an ninh cho các server Linux, chúng ta cần có một kernel an toàn hơn. Điều này có thể thực hiện được bằng cách sửa đổi kernel nguyên thuỷ bằng các ‘patch’ tăng cường tính an ninh cho hệ thống. Các patch này có các tính năng chính yếu sau:
Bảo vệ – bảo vệ các file hệ thống quan trọng khỏi sự thay đổi ngay cả với user root. Bảo vệ các process quan trọng khỏi bị ngừng bởi lệnh ‘kill’. Chặn các tác vụ truy cập IO mức thấp (RAW IO) của các chương trình không được phép.
Phát hiện – Phát hiện và cảnh báo với người quản trị khi server bị scan. Cũng như khi có các tác vụ trên hệ thống vi phạm các luật (rules) định trước.
Đối phó – Khi phát hiện sự vi phạm trên hệ thống, các ghi nhận chi tiết sẽ được thực hiện cũng như có thể ngừng lập tức phiên làm việc gây ra
Một vài công cụ sửa đổi kernel được sử dụng rộng rãi là LIDS (Linux Intrusion Detection System), Medusa, ...
AN TOÀN CHO CÁC GIAO DỊCH TRÊN MẠNG
Có rất nhiều dịch vụ mạng truyền thống giao tiếp thông qua giao thức văn bản không mã hoá, như TELNET, FTP, RLOGIN, HTTP, POP3. Trong các giao dịch giữa người dùng với máy chủ, tất cả các thông tin dạng gói được truyền qua mạng dưới hình thức văn bản không được mã hoá. Các gói tin này có thể dễ dàng bị chặn và sao chép ở một điểm nào đó trên đường đi. Việc giải mã các gói tin này rất dễ dàng, cho phép lấy được các thông tin như tên người dùng, mật khẩu và các thông tin quan trọng khác. Việc sử dụng các giao dịch mạng được mã hoá khiến cho việc giải mã thông tin trở nên khó hơn và giúp bạn giữ an toàn các thông tin quan trọng. Các kỹ thuật thông dụng hiện nay là IPSec, SSL, TLS, SASL và PKI.
Quản trị từ xa là một tính năng hấp dẫn của các hệ thống UNIX. Người quản trị mạng có thể dễ dàng truy nhập vào hệ thống từ bất kỳ nơi nào trên mạng thông qua các giao thức thông dụng như telnet, rlogin. Một số công cụ quản trị từ xa được sử dụng rộng rãi như linuxconf, webmin cũng dùng giao thức không mã hoá. Việc thay thế tất cả các dịch vụ mạng dùng giao thức không mã hoá bằng giao thức có mã hoá là rất khó. Tuy nhiên, bạn nên cung cấp việc truy cập các dịch vụ truyền thống như HTTP/POP3 thông qua SSL, cũng như thay thế các dịch vụ telnet, rlogin bằng SSH.
Theo Vietnam Security
thay đổi nội dung bởi: secret-ami, 22-06-2008 lúc 03:52 PM
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
Tăng cường an ninh cho hệ thống Linux (Phần 2)
By ThanhNL
Tiếp theo phần 1
AN TOÀN CHO CÁC GIAO DỊCH TRÊN MẠNG
Có rất nhiều dịch vụ mạng truyền thống giao tiếp thông qua giao thức văn bản không mã hoá, như TELNET, FTP, RLOGIN, HTTP, POP3. Trong các giao dịch giữa người dùng với máy chủ, tất cả các thông tin dạng gói được truyền qua mạng dưới hình thức văn bản không được mã hoá. Các gói tin này có thể dễ dàng bị chặn và sao chép ở một điểm nào đó trên đường đi. Việc giải mã các gói tin này rất dễ dàng, cho phép lấy được các thông tin như tên người dùng, mật khẩu và các thông tin quan trọng khác. Việc sử dụng các giao dịch mạng được mã hoá khiến cho việc giải mã thông tin trở nên khó hơn và giúp bạn giữ an toàn các thông tin quan trọng. Các kỹ thuật thông dụng hiện nay là IPSec, SSL, TLS, SASL và PKI.
Quản trị từ xa là một tính năng hấp dẫn của các hệ thống UNIX. Người quản trị mạng có thể dễ dàng truy nhập vào hệ thống từ bất kỳ nơi nào trên mạng thông qua các giao thức thông dụng như telnet, rlogin. Một số công cụ quản trị từ xa được sử dụng rộng rãi như linuxconf, webmin cũng dùng giao thức không mã hoá. Việc thay thế tất cả các dịch vụ mạng dùng giao thức không mã hoá bằng giao thức có mã hoá là rất khó. Tuy nhiên, bạn nên cung cấp việc truy cập các dịch vụ truyền thống như HTTP/POP3 thông qua SSL, cũng như thay thế các dịch vụ telnet, rlogin bằng SSH.
LINUX FIREWALL
An toàn hệ thống luôn luôn là một vấn đề sống còn của mạng máy tính và firewall là một thành phần cốt yếu cho việc đảm bảo an ninh.
Một firewall là một tập hợp các qui tắc, ứng dụng và chính sách đảm bảo cho người dùng truy cập các dịch vụ mạng trong khi mạng bên trong vẫn an toàn đối với các kẻ tấn công từ Internet hay từ các mạng khác. Có hai loại kiến trúc firewall cơ bản là : Proxy/Application firewall và filtering gateway firewall. Hầu hết các hệ thống firewall hiện đại là loại lai (hybrid) của cả hai loại trên.
Nhiều công ty và nhà cung cấp dịch vụ Internet sử dụng máy chủ Linux như một Internet gateway. Những máy chủ này thường phục vụ như máy chủ mail, web, ftp, hay dialup. Hơn nữa, chúng cũng thường hoạt động như các firewall, thi hành các chính sách kiểm soát giữa Internet và mạng của công ty. Khả năng uyển chuyển khiến cho Linux thu hút như là một thay thế cho những hệ điều hành thương mại.
Tính năng firewall chuẩn được cung cấp sẵn trong kernel của Linux được xây dựng từ hai thành phần : ipchains và IP Masquerading.
Linux IP Firewalling Chains là một cơ chế lọc gói tin IP. Những tính năng của IP Chains cho phép cấu hình máy chủ Linux như một filtering gateway/firewall dễ dàng. Một thành phần quan trọng khác của nó trong kernel là IP Masquerading, một tính năng chuyển đổi địa chỉ mạng (network address translation- NAT) mà có thể che giấu các địa chỉ IP thực của mạng bên trong.
Để sử dụng ipchains, bạn cần thiết lập một tập các luật mà qui định các kết nối được cho phép hay bị cấm. Ví dụ:
# Cho phép các kết nối web tới Web Server của bạn
/sbin/ipchains -A your_chains_rules -s 0.0.0.0/0 www -d 192.16.0.100 1024: -j ACCEPT
# Cho phép các kết nối từ bên trong tới các Web Server bên ngoài
/sbin/ipchains -A your_chains_rules -s 192.168.0.0/24 1024: -d 0.0.0.0/0 www -j ACCEPT
# Từ chối truy cập tất cả các dịch vu khác
/sbin/ipchains -P your_chains_rules input DENY
Ngoài ra, bạn có thể dùng các sản phẩm firewall thương mại như Check Point FireWall-1, Phoenix Adaptive Firewall, Gateway Guardian, XSentry Firewall, Raptor, ... hay rất nhiều các phiên bản miễn phí, mã nguồn mở cho Linux như T.Rex Firewall, Dante, SINUS, TIS Firewall Toolkit, ...
DÙNG CÔNG CỤ DÒ TÌM ĐỂ KHẢO SÁT HỆ THỐNG
Thâm nhập vào một hệ thống bất kỳ nào cũng cần có sự chuẩn bị. Hacker phải xác định ra máy đích và tìm xem những port nào đang mở trước khi hệ thống có thể bị xâm phạm. Quá trình này thường được thực hiện bởi các công cụ dò tìm (scanning tool), kỹ thuật chính để tìm ra máy đích và các port đang mở trên đó. Dò tìm là bước đầu tiên hacker sẽ sử dụng trước khi thực hiện tấn công. Bằng cách sử dụng các công cụ dò tìm như Nmap, hacker có thể rà khắp các mạng để tìm ra các máy đích có thể bị tấn công. Một khi xác định được các máy này, kẻ xâm nhập có thể dò tìm các port đang lắng nghe. Nmap cũng sử dụng một số kỹ thuật cho phép xác định khá chính xác loại máy đang kiểm tra.
Bằng cách sử dụng những công cụ của chính các hacker thường dùng, người qun trị hệ thống có thể nhìn vào hệ thống của mình từ góc độ của các hacker và giúp tăng cường tính an toàn của hệ thống. Có rất nhiều công cụ dò tìm có thể sử dụng như: Nmap, strobe, sscan, SATAN, ...
Dưới đây là một ví dụ sử dụng Nmap:
# nmap -sS -O 192.168.1.200
Starting nmap V. 2.54 by Fyodor (fyodor@dhp.com, www.insecure.org/nmap/)
Interesting ports on comet (192.168.1.200):
Port State Protocol Service
7 open tcp echo
19 open tcp chargen
21 open tcp ftp
...
TCP Sequence Prediction: Class=random positive increments
Difficulty=17818 (Worthy challenge)
Remote operating system guess: Linux 2.2.13
Nmap run completed -- 1 IP address (1 host up) scanned in 5 seconds
Tuy nhiên, sử dụng các công cụ này không thể thay thế cho một người quản trị có kiến thức. Bởi vì việc dò tìm thường dự báo một cuộc tấn công, các site nên ưu tiên cho việc theo dõi chúng. Với các công cụ dò tìm, các nhà quản trị hệ thống mạng có thể phát hiện ra những gì mà các hacker có thể thấy khi dò trên hệ thống của mình.
PHÁT HIỆN SỰ XÂM NHẬP QUA MẠNG
Nếu hệ thống của bạn có kết nối vào internet, bạn có thể trở thành một mục tiêu bị dò tìm các lỗ hổng về bảo mật. Mặc dù hệ thống của bạn có ghi nhận điều này hay không thì vẫn không đủ để xác định và phát hiện việc dò tìm này. Một vấn đề cần quan tâm khác là các cuộc tấn công gây ngừng dịch vụ (Denial of Services - DoS), làm thế nào để ngăn ngừa, phát hiện và đối phó với chúng nếu bạn không muốn hệ thống của bạn ngưng trệ.
Hệ thống phát hiện xâm nhập qua mạng (Network Intrusion Detection System - NIDS) theo dõi các thông tin truyền trên mạng và phát hiện nếu có hacker đang cố xâm nhập vào hệ thống (hoặc gây gây ra một vụ tấn công DoS). Một ví dụ điển hình là hệ thống theo dõi số lượng lớn các yêu cầu kết nối TCP đến nhiều port trên một máy nào đó, do vậy có thể phát hiện ra nếu có ai đó đang thử một tác vụ dò tìm TCP port. Một NIDS có thể chạy trên máy cần theo dõi hoặc trên một máy độc lập theo dõi toàn bộ thông tin trên mạng.
Các công cụ có thể được kết hợp để tạo một hệ thống phát hiện xâm nhập qua mạng. Chẳng hạn dùng tcpwrapper để điều khiển, ghi nhận các dịch vụ đã được đăng ký. Các chương trình phân tích nhật ký hệ thống, như swatch, có thể dùng để xác định các tác vụ dò tìm trên hệ thống. Và điều quan trọng nhất là các công cụ có thể phân tích các thông tin trên mạng để phát hiện các tấn công DoS hoặc đánh cắp thông tin như tcpdump, ethereal, ngrep, NFR (Network Flight Recorder), PortSentry, Sentinel, Snort, ...
Khi hiện thực một hệ thống phát hiện xâm nhập qua mạng bạn cần phải lưu tâm đến hiệu suất của hệ thống cũng như các chính sách bảo đảm sự riêng tư.
KIỂM TRA KHẢ NĂNG BỊ XÂM NHẬP
Kiểm tra khả năng bị xâm nhập liên quan đến việc xác định và sắp xếp các lỗ hổng an ninh trong hệ thống bằng cách dùng một số công cụ kiểm tra. Nhiều công cụ kiểm tra cũng có khả năng khai thác một số lỗ hổng tìm thấy để làm rõ quá trình thâm nhập trái phép sẽ được thực hiện như thế nào. Ví dụ, một lỗi tràn bộ đệm của chương trình phục vụ dịch vụ FTP có thể dẫn đến việc thâm nhập vào hệ thống với quyền ‘root’. Nếu người quản trị mạng có kiến thức về kiểm tra khả năng bị xâm nhập trước khi nó xảy ra, họ có thể tiến hành các tác vụ để nâng cao mức độ an ninh của hệ thống mạng.
Có rất nhiều các công cụ mạng mà bạn có thể sử dụng trong việc kiểm tra khả năng bị xâm nhập. Hầu hết các quá trình kiểm tra đều dùng ít nhất một công cụ tự động phân tích các lỗ hổng an ninh. Các công cụ này thăm dò hệ thống để xác định các dịch vụ hiện có. Thông tin lấy từ các dịch vụ này sẽ được so sánh với cơ sở dữ liệu các lỗ hổng an ninh đã được tìm thấy trước đó.
Các công cụ thường được sử dụng để thực hiện các kiểm tra loại này là ISS Scanner, Cybercop, Retina, Nessus, cgiscan, CIS, ...
Kiểm tra khả năng bị xâm nhập cần được thực hiện bởi những người có trách nhiệm một cách cẩn thận. Sự thiếu kiến thức và sử dụng sai cách có thể sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không thể lường trước được.
ĐỐI PHÓ KHI HỆ THỐNG CỦA BẠN BỊ TẤN CÔNG
Gần đây, một loạt các vụ tấn công nhắm vào các site của những công ty lớn như Yahoo!, Buy.com, E-Bay, Amazon và CNN Interactive gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng. Những tấn công này là dạng tấn công gây ngừng dịch vụ "Denial-Of-Service" mà được thiết kế để làm ngưng hoạt động của một mạng máy tính hay một website bằng cách gửi liên tục với số lượng lớn các dữ liệu tới mục tiêu tấn công khiến cho hệ thống bị tấn công bị ngừng hoạt động, điều này tương tự như hàng trăm người cùng gọi không ngừng tới 1 số điện thoại khiến nó liên tục bị bận.
Trong khi không thể nào tránh được mọi nguy hiểm từ các cuộc tấn công, chúng tôi khuyên bạn một số bước mà bạn nên theo khi bạn phát hiện ra rằng hệ thống của bạn bị tấn công. Chúng tôi cũng đưa ra một số cách để giúp bạn bảo đảm tính hiệu qủa của hệ thống an ninh và những bước bạn nên làm để giảm rủi ro và có thể đối phó với những cuộc tấn công.
Nếu phát hiện ra rằng hệ thống của bạn đang bị tấn công, hãy bình tĩnh. Sau đây là những bước bạn nên làm:
Tập hợp 1 nhóm để đối phó với sự tấn công:
- Nhóm này phải bao gồm những nhân viên kinh nghiệm, những người mà có thể giúp hình thành một kế hoạch hành động đối phó với sự tấn công.
Dựa theo chính sách và các quy trình thực hiện về an ninh của công ty, sử dụng các bước thích hợp khi thông báo cho mọi người hay tổ chức về cuộc tấn công.
Tìm sự giúp đỡ từ nhà cung cấp dịch vụ Internet và cơ quan phụ trách về an ninh máy tính:
- Liên hệ nhà cung cấp dịch vụ Internet của bạn để thông báo về cuộc tấn công. Có thể nhà cung cấp dịch vụ Internet của bạn sẽ chặn đứng được cuộc tấn công.
- Liên hệ cơ quan phụ trách về an ninh máy tính để thông báo về cuộc tấn công
Tạm thời dùng phương thức truyền thông khác (chẳng hạn như qua điện thoại) khi trao đổi thông tin để đảm bo rằng kẻ xâm nhập không thể chặn và lấy được thông tin.
Ghi lại tất cả các hoạt động của bạn (chẳng hạn như gọi điện thoại, thay đổi file, ...)
Theo dõi các hệ thống quan trọng trong qúa trình bị tấn công bằng các phần mềm hay dịch vụ phát hiện sự xâm nhập (intrusion detection software/services). Điều này có thể giúp làm giảm nhẹ sự tấn công cũng như phát hiện những dấu hiệu của sự tấn công thực sự hay chỉ là sự quấy rối nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của bạn(chẳng hạn một tấn công DoS với dụng ý làm sao lãng sự chú ý của bạn trong khi thực sự đây là một cuộc tấn công nhằm xâm nhập vào hệ thống của bạn).
- Sao chép lại tất cả các files mà kẻ xâm nhập để lại hay thay đổi (như những đoạn mã chương trình, log file, ...)
Liên hệ nhà chức trách để báo cáo về vụ tấn công.
Những bước bạn nên làm để giảm rủi ro và đối phó với sự tấn công trong tương lai :
Xây dựng và trao quyền cho nhóm đối phó với sự tấn công
Thi hành kiểm tra an ninh và đánh giá mức độ rủi ro của hệ thống
Cài đặt các phần mềm an toàn hệ thống phù hợp để giảm bớt rủi ro
Nâng cao khả năng của mình về an toàn máy tính
Các bước kiểm tra để giúp bạn bảo đảm tính hiệu quả của hệ thống an ninh
Kiểm tra hệ thống an ninh mới cài đặt : chắc chắn tính đúng đắn của chính sách an ninh hiện có và cấu hình chuẩn của hệ thống.
Kiểm tra tự động thường xuyên : để khám phá sự “viếng thăm” của những hacker hay những hành động sai trái của nhân viên trong công ty.
Kiểm tra ngẫu nhiên: để kiểm tra chính sách an ninh và những tiêu chuẩn, hoặc kiểm tra sự hiện hữu của những lỗ hổng đã được phát hiện (chẳng hạn những lỗi được thông báo từ nhà cung cấp phần mềm)
Kiểm tra hằng đêm những file quan trọng: để đánh giá sự toàn vẹn của những file và cơ sở dữ liệu quan trọng
Kiểm tra các tài khoản người dùng: để phát hiện các tài khoản không sử dụng, không tồn tại, ...
Kiểm tra định kỳ để xác định trạng thái hiện tại của hệ thống an ninh của bạn
BẠN CÓ THỂ XEM THÊM THÔNG TIN TẠI
Các trung tâm giúp đối phó tai nạn trên Internet
http://www.cert.org
http://www.first.org
http://ciac.llnl.gov/
http://www.cert.dfn.de/eng/csir/europe/certs.html
Một số website về an toàn máy tính
http://www.cs.purdue.edu/coast/
http://www.linuxsecurity.com
http://www.securityportal.com
http://www.tno.nl/instit/fel/intern/wkinfsec.html
http://www.icsa.net
http://www.sans.org
http://www.iss.com
http://www.securityfocus.com
Thông tin về an toàn từ nhà cung cấp
http://www.calderasystems.com/news/security/
http://www.debian.org/security/
http://www.redhat.com/cgi-bin/support/
Một số sách về an toàn máy tính
Actually Useful Internet Security Techniques by Larry J. Hughes Jr.
Applied Cryptography: Protocols, Algorithms and Source Code in C by Bruce Schneier
Building Internet Firewall by Brent Chapman & Elizabeth D. Zwicky
Cisco IOS Network Security by Mike Kaeo
Firewalls and Internet Security by Bill Cheswick & Steve Bellovin
Halting the Hacker: A practical Guide To Computer Security by Donal L. Pipkin
Intrusion Detection: An Introduction to Internet Surveillance, Correlation, Traps, Trace Back and Response by Edward G. Amoroso
Intrusion Detection: Network Security Beyond the Firewall by Terry Escamilla
Linux Security by Jonh S. Flowers
Theo Vietnam Security
thay đổi nội dung bởi: secret-ami, 22-06-2008 lúc 03:53 PM
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
sis ơi, e góp ý nhé, thật sự đọc mấy này ngán lắm, đau hết cả mắt, đã thế font chữ nhìn ngợp lắm, post j vui vui, những cái này e nghĩ về chuyên ngành of vài ng họ sẽ đọc và tự tìm hiểu. chị thử hỏi 100 mem trong này xem có bao nhiêu mem ngồi vào chăm chú đọc cho hết mất bài tương tự như thế ^^
secret-ami (22-06-2008)
Code:
http://rapidshare.com/files/91762580/GTHDHLinux1.part1.rar
----
http://rapidshare.com/files/91765384/GTHDHLinux1.part2.rar
---
http://rapidshare.com/files/89588915/GTHDHLinux1.part3.rar
---
http://rapidshare.com/files/90987956/GTHDHLinux1.part4.rar
---
http://rapidshare.com/files/91007094/GTHDHLinux1.part5.rar
---
http://rapidshare.com/files/91151294/GTHDHLinux1.part6.rar
---
http://rapidshare.com/files/91161649/GTHDHLinux1.part7.rar
---
Disk 2
http://rapidshare.com/files/91969550/GTHDHLinux2.part1.rar
---
http://rapidshare.com/files/91970327/GTHDHLinux2.part2.rar
---
http://rapidshare.com/files/91971389/GTHDHLinux2.part3.rar
---
http://rapidshare.com/files/91842453/GTHDHLinux2.part4.rar
---
http://rapidshare.com/files/91864537/GTHDHLinux2.part5.rar
---
http://rapidshare.com/files/91978319/GTHDHLinux2.part6.rar
---
thay đổi nội dung bởi: giangcoiha, 22-06-2008 lúc 03:53 PM Lý do: sửa link
secret-ami (22-06-2008)