Công nghệ clustering trên Linux
Hiện nay công nghệ clustering được dùng rộng rãi cho các hệ thống cần độ sẵn sàng phục vụ cao. Các nhà cung cấp lớn đều có các giải pháp clustering của mình. Các giải pháp clustering trên Linux được đặc biệt quan tâm do tính kinh tế, khả nǎng dịch vụ cao, và đa dạng. Chúng ta hãy cùng xem xét về công nghệ clustering.
Hiện nay công nghệ clustering được dùng rộng rãi cho các hệ thống cần độ sẵn sàng phục vụ cao. Các nhà cung cấp lớn đều có các giải pháp clustering của mình. Các giải pháp clustering trên Linux được đặc biệt quan tâm do tính kinh tế, khả nǎng dịch vụ cao, và đa dạng.
Khái niệm clustering có nghĩa khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau. Clustering bao gồm có hai hướng chính là:
- Clustering cho tính toán (chẳng hạn Beowulf): kết hợp sử dụng nhiều máy để tǎng sức mạnh tính toán, kiểu này thường được áp dụng cho các công việc đòi hỏi tính toán chuyên sâu. Mô hình clustering này được dùng cho các dự án khoa học trong các lĩnh vực thiên vǎn, hạt cơ bản, mô tả bản đồ gien, y học...
- Khả nǎng sẵn sàng phục vụ cao (High Availability - HA): sử dụng nhiều công nghệ khác nhau nhằm đạt được mức tin cậy đặc biệt về dịch vụ khi gặp sự cố. Ví dụ như các nhà cung cấp dịch vụ Internet ISP cần phải đảm bảo dịch vụ không gián đoạn 24/7/365.
Ta không nên lẫn lộn về khái niệm giữa công nghệ clustering trong tài liệu này với thuật ngữ khả nǎng chịu đựng sai sót (fault-tolerance). Các hệ thống chịu đựng sai sót sử dụng phần cứng chuyên dụng cao (với giá thành rất cao) để cung cấp một môi trường dư độ tin cậy đảm bảo cho các dịch vụ có thể hoạt động trơn tru mà không bị dừng bởi một vài lỗi nhỏ. Các hệ thống Linux có khả nǎng phục vụ cao được thiết kế để chạy trên các phần cứng thông dụng để đạt khả nǎng sẵn sàng cao tiệm cận khả nǎng sẵn sàng cao của các hệ thống có khả nǎng chịu đựng sai sót với chi phí thấp hơn vài lần.
Các hệ thống Linux clustering dựa trên các cấu hình dùng hai công nghệ nền tảng là dùng máy dự phòng khi gặp lỗi (Fail Over Service - FOS) và Server ảo Linux (Linux Virtual Server-LVS). Việc lựa chọn FOS hay LVS làm công nghệ nền cho máy chủ Linux có khả nǎng phục vụ cao sẽ làm ảnh hưởng tới các yêu cầu về phần cứng và các dịch vụ có thể được hỗ trợ. Ta hãy thử xem qua một vài ví dụ về cấu hình và xem xét mức độ liên quan của chúng.
Các cấu hình FOS
Máy chủ Linux có khả nǎng phục vụ cao dựa trên FOS gồm hai hệ thống hoạt động trên nền hệ điều hành Linux. Mỗi một hệ thống phải được đảm bảo cung cấp đủ về mặt cấu hình để có thể hỗ trợ đủ tải cho các dịch vụ. Điều này là cần thiết, bởi vì tại bất kỳ thời điểm nào, chỉ có duy nhất một hệ thống (nút active) là cung cấp dịch vụ cho khách hàng của bạn.
- Trong quá trình khởi tạo cấu hình của một cluster FOS, một hệ thống sẽ được coi là nút chính (primary node), và hệ thống kia sẽ được gọi là nút sao lưu (backup node). Sự khác biệt này được tạo ra để xác định hệ thống nào sẽ được khai báo là active để cả hai hệ thống sẽ tự tìm kiếm trạng thái hoạt động tại cùng một thời điểm. Trong trường hợp đó, nút chính sẽ "chiến thắng".
Nút đang hoạt động (active node) sẽ đáp lại các yêu cầu về dịch vụ thông qua một địa chỉ IP ảo (Virtual IP hay VIP). Địa chỉ VIP là một địa chỉ IP và nó chỉ khác so với địa chỉ IP thông thường của một nút đang hoạt động.
Hệ thống khác (nút không hoạt động) không trực tiếp chạy dịch vụ, thay vào đó nó quản lí các dịch vụ của nút đang hoạt động, và đảm bảo chắc chắn là nút đang hoạt động vẫn phải đang còn hoạt động. Nếu nút không hoạt động phát hiện ra 1 vấn đề nào đó với hoặc là nút hoạt động hoặc dịch vụ đang chạy trên nó, thì một thông báo lỗi sẽ được khởi tạo.
Khi có lỗi, các bước sau sẽ được thực hiện:
- Nút đang hoạt động sẽ trực tiếp ngắt hết các dịch vụ đang chạy (nếu nó đang chạy và vẫn còn đang kết nối mạng)
- Nút không hoạt động sẽ khởi động các dịch vụ
- Nút đang hoạt động sẽ ngắt không sử dụng địa chỉ VIP (nếu nó vẫn đang chạy hoặc còn đang nối mạng)
- Nút không hoạt động bây giờ lại chuyển thành nút đang hoạt động, và ở chế độ sử dụng địa chỉ VIP
- Nếu nó vẫn còn đang chạy và đang kết nối mạng, nút trước kia là đang hoạt động thì bây giờ trở thành không hoạt động, bắt đầu giám sát các dịch vụ và nói chung thực hiện đầy đủ các chức nǎng của một nút đang hoạt động.
Hãy xem các cấu hình FOS cơ bản nhất:
Một cấu hình FOS cơ bản
Hình 1, là một cấu hình đơn giản FOS minh hoạ một máy chủ Linux cluster có khả nǎng phục vụ cao. Trong trường hợp này, nút đang hoạt động cung cấp các dịch vụ về Web và FTP, trong khi nút không hoạt động quản lý nút đang hoạt động và các dịch vụ đang chạy trên nó.
Nếu không được minh hoạ trong sơ đồ này, cũng có thể là cả hai nút đang hoạt động và không hoạt động được dùng vào việc khác, ít cấp bách hơn, các dịch vụ trong khi thực hiện vai trò của chúng trong một FOS cluster. Ví dụ, hệ thống không hoạt động có thể chạy lệnh inn để quản lý giao thức NNTP newsfeed. Tuy nhiên, cần lưu ý là hoặc phải giữ cho hệ thống có khả nǎng còn đủ tài nguyên dư để đề phòng có một lỗi xuất hiện, hoặc chọn các dịch vụ có khả nǎng tắt hệ thống trong trường hợp có lỗi xảy ra. Hơn nữa, từ quan điểm của một người quản trị hệ thống, thì lý tưởng nhất là có thêm một hệ thống dành riêng cho nút chính và nút sao lưu để thực hiện các dịch vụ liên quan tới cluster, thậm chí ngay cả khi điều này cho kết quả của việc sử dụng ít hơn 100% tài nguyên hệ thống.
Hình 1. Một ví dụ cấu hình FOS
Một vấn đề của FOS cluster là khả nǎng toàn bộ cluster sẽ hạn chế khả nǎng của nút hiện tại đang hoạt động. Điều này có nghĩa là, thêm vào các khả nǎng phụ khác trực tuyến sẽ yêu cầu phải cập nhật (hoặc thay thế) cho mỗi hệ thống. Trong khi công nghệ FOS lại bao hàm ý nghĩa là các cập nhật đó có thể thực hiện được mà không làm ảnh hưởng tới tính sẵn có của dịch vụ.
Cần lưu ý thêm là FOS không phải là công nghệ chia xẻ dữ liệu (data-sharing technology). Hay nói cách khác, nếu một dịch vụ đọc và ghi dữ liệu trên một nút đang hoạt động, FOS sẽ không bao hàm cơ chế sao chép dữ liệu đó sang một nút không hoạt động. Điều này có nghĩa là dữ liệu được dùng bởi các dịch vụ trên một cluster FOS sẽ thuộc vào một trong hai nhóm dưới đây:
- Dữ liệu không thay đổi; nó là dữ liệu chỉ đọc (read-only)
- Dữ liệu không còn là chỉ đọc, nhưng nó lại sẵn sàng cho cả hai nút hoạt động và không hoạt động một cách đều nhau.
Trong khi cấu hình thử nghiệm ở trên có thể là phù hợp với một Web site có các trang Web là tĩnh, thì nó lại không thích hợp với một site FTP đang bận, đặc biệt là site mà các file mới được upload liên tục bởi người sử dụng FTP site. Hãy thử xem qua cách mà FOS cluster có thể sử dụng nhiều hơn các dữ liệu động.
Một cấu hình FOS với dữ liệu đã được chia xẻ
Như đã nói ở trên, một số cơ chế được sử dụng để tạo dữ liệu đọc-ghi sẵn có cho cả hai nút trong một FOS cluster. Một giải pháp là sử dụng khả nǎng lưu trữ NFS có thể truy cập được. Bằng cách sử dụng tiếp cận này, các lỗi xảy ra với nút đang hoạt động sẽ không ảnh hưởng đến kết quả của dữ liệu bị không truy cập được của nút không hoạt động.
Tuy nhiên, cần phải thận trọng khi chặn quyền truy nhập tới các thiết bị lưu trũ NFS nếu như đó chỉ là một lỗi đơn giản. Hơn nữa, sự mất mát của kiểu lưu trữ này có thể ảnh hưởng tới kết quả ngưng chạy dịch vụ, thậm chí là ngay cả khi các nút hoạt động và không hoạt động vẫn bình thường. Giải pháp ở hình 2 là sử dụng RAID và các công nghệ khác để triển khai một máy chủ NFS chịu được lỗi (fault-resistant NFS server).
Hình 2. Một kiểu cấu hình FOS với dữ liệu chia xẻ
Trong khi nó có thể là các sửa đổi khác nhau đối với cấu hình FOS cluster cơ bản là có thể, thì trong thực tế, các lựa chọn là giới hạn trong một hệ thống cung cấp tất cả các dịch vụ, trong khi một hệ thống sao lưu quản lý các dịch vụ đó, và khởi tạo lỗi nếu có và khi cần. Để tǎng thêm khả nǎng mềm dẻo và một số khả nǎng khác, lựa chọn giải pháp kết hợp là cần thiết. Và sự lựa chọn đó chính là LVS.
Các cấu hình LVS điển hình
Bằng nhiều cách, một LVS cluster có thể được xem như là một FOS cluster chỉ với một sai khác nhỏ - thay vì thực sự cung cấp các dịch vụ, nút đang hoạt động trong LVS cluster lại gửi các yêu cầu tới một hoặc nhiều máy chủ mà thực sự cung cấp các dịch vụ. Các máy chủ phụ này (gọi là các máy chủ thực - real servers) được thực hiện cân bằng tải bởi nút đang hoạt động (trong thuật ngữ của LVS gọi là active router)
Giống như FOS cluster, có hai hệ thống chia sẻ, đảm bảo rằng một trong hai hệ thống là đang hoạt động, trong khi một hệ thống khác (inactive router) lại ở chế độ chờ để khởi tạo lỗi. Tuy nhiên, chúng chỉ khác nhau ở điểm kết thúc.
Bởi vì nhiệm vụ chính của active router là chấp nhận các yêu cầu dịch vụ gửi đến và gửi chúng tới một máy chủ thích hợp, điều đó cũng cần thiết cho active router để theo dõi tình trạng của các máy chủ thực, và xác định xem máy chủ thực nào sẽ nhận các yêu cầu dịch vụ trả về. Như vậy, active router quản lý tất cả các dịch vụ trên mỗi mỗi server thực. Ngay cả khi dịch vụ gặp sự cố trên một máy chủ thực, active server sẽ dừng việc gửi các yêu cầu dịch vụ tới nó cho tới khi dịch vụ hoạt động trở lại.
Thêm vào đó, active router có thể tuỳ ý sử dụng một trong số các thông số lịch trình để xác định xem máy chủ thực nào có khả nǎng nhất trong việc xử lý các yêu cầu dịch vụ tiếp theo. Các kiểu cân tải:
- Luân chuyển (Round robin);
- Kết nối tối thiểu (least connections);
- Luân chuyển có trọng số;
- Kết nối tối thiểu có trọng số (least connections).
Như vậy các active router có thể tính được tải hoạt động của máy chủ thực và phân tải tương ứng. Các máy chủ thực có thể sử dụng các cấu hình phần cứng khác nhau, và có một active router cân bằng tải cho mỗi real server một cách đều nhau.
Một cấu hình LVS cơ bản
Trong hình 3 minh hoạ một kiểu máy chủ LVS cluster với 3 máy chủ thực cung cấp dịch vụ về Web. Trong cấu hình này, các máy chủ thực được kết nối với một mạng con đã được dành riêng. Bộ phân tuyến (router) có hai card giao diện mạng:
- Một giao diện cho mạng chung
- Một giao diện cho mạng riêng
Các yêu cầu dịch vụ được gửi tới các địa chỉ IP ảo của cluster được nhận bởi active router trên một giao diện, sau đó lại được chuyển sang máy chủ thực thích hợp khác thông qua một giao diện khác. Trong trường hợp này, các bộ chọn đường đồng thời có thể hoạt động như là một phần của các firewall; chỉ chuyển tiếp các dịch vụ hợp lệ tới mạng riêng của máy chủ thực
Hình 3. Một cấu hình LVS điển hình
Một LVS cluster có thể sử dụng một trong 3 phương pháp khác nhau để phân tuyến thông tin tới các máy chủ thực:
- Dịch địa chỉ mạng (Network Address Translation), cho phép thiết lập một kiến trúc mạng LAN riêng.
- Dẫn đường trực tiếp, cho phép thiết lập kiểu truyền theo kiểu mạng LAN.
- Đường hầm - Tunnelling (đóng gói IP) cho phép có thể phân phối các máy chủ thực ở mức WAN.
Trong hình 3, bộ chọn đường NAT đang được sử dụng. Trong khi bộ chọn đường dựa trên NAT cho phép nó có thể hoạt động với các máy chủ thực trong một môi trường được bảo vệ tốt hơn, bởi nó phải dịch các địa chỉ của tất cả các thành phần đi và đến từ mỗi máy chủ thực. Trong thực tế, điều này chỉ giới hạn kích thước của NAT-routed LVS cluster tới xấp xỉ 10 đến 20 máy chủ thực.
Tổng chi phí cho giải pháp này sẽ là không hiện thực nếu sử dụng các bộ dẫn đường kiểu tunnel (đường hầm) hoặc dẫn đường trực tiếp, bởi vì trong các kĩ thuật dẫn đường này, các máy chủ thực phản hồi trực tiếp tới các hệ thống được yêu cầu. Với kiểu tunneling tổng chi phí sẽ còn cao hơn nhiều so với kiểu trực tiếp, nhưng nó vẫn nhỏ hơn khi so sánh với kiểu NAT.
Một khía cạnh khá thú vị của cluster LVS là các máy chủ thực không phải chạy trên một hệ điều hành riêng biệt. Vì các kỹ thuật chọn đường sử dụng LVS đều dựa trên các đặc điểm chuẩn TCP/IP, do đó với bất kì một nền công nghệ nào có hỗ trợ TCP/IP đều có thể dùng được như là một phần của LVS cluster.
Cấu hình LVS phức tạp hơn
Hình 4, minh hoạ một tiếp cận phức tạp hơn để triển khai hệ thống LVS. Kiểu cấu hình này minh hoạ cho ta thấy một tiếp cận của việc triển khai các cluster bao gồm một số lượng lớn các hệ thống. Tiếp cận này theo cấu hình này là chia xẻ một tập hợp các máy chủ thực giữa nhiều router (và các router backup cùng với chúng)
Hình 4. Cấu hình LVS phức tạp
Bởi vì mỗi một active router chịu trách nhiệm xử lý các yêu cầu chọn đường gửi tới một địa chỉ VIP duy nhất (hoặc tập hợp các địa chỉ), cấu hình này về cơ bản có thể đại diện cho nhiều cluster. Tuy nhiên, round-robin DNS có thể được dung để giải quyết một hostname đơn tới một trong số các địa chỉ VIP được quản lý bởi một trong số các active router. Do đó, mỗi một yêu cầu dịch vụ sẽ được gửi tới mỗi một active router, một cách hiệu quả là phân bố đều lưu lượng truyền qua các active router.
Kết luận
Các nhà cung cấp giải pháp như IBM, SGI, HP, và Sun đều cung cấp các sản phẩm và dịch vụ để xây dựng các cluster trên Linux. Sự quan trọng của Linux như một nền server xoay quanh khả nǎng hỗ trợ các server lớn và các cluster cho phép cạnh tranh với các Unix server. Các bạn có thể thấy có nhiều tổ chức dùng các giải pháp cluster trên Linux để tính các bài toán lớn hoặc phục vụ các Website. Clustering là một trong các dịch vụ đã được thử thách thành công trên Linux. Việc dùng các giải pháp trên Linux đã giảm giá thành giải pháp cluster vài lần và đạt tính sẵn sàng phục vụ cao, thậm chí đến "bốn số chín" 99,99%.
Theo Internet
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
Chạy Linux từ ổ USB Flash
Serdar YegulalpBạn có muốn chạy Linux bất cứ lúc nào cũng như bất cứ nơi đâu? Trong bài này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những gì có thể thực hiện đối với các phiên bản Linux phổ biến như Puppy Linux, Ubuntu và Fedora để có thể khởi chạy trực tiếp từ ổ USB.
Gần như Linux thường chạy bằng cách cài đặt trên ổ đĩa cứng hoặc trên một CD/DVD. Cách đầu tiên có ưu điểm nhanh nhưng không mang tính di động, cách thứ hai có thể chạy được tại bất cứ nơi đâu có máy tính và ổ CD, tuy nhiên cách này lại có nhược điểm không nhanh. Mặc dù vậy trong một số năm trở lại đây bắt đầu xuất hiện một số cách kết hợp được cả tốc độ của ổ đĩa cứng và sự thuận lợi của CD: chạy Linux từ một ổ USB flash.
Tuy bộ nhớ flash vẫn là bộ nhớ có giá thành khá cao, một ổ đĩa cứng 100GB flash có thể vượt ra ngoài khả năng chi trả của nhiều người nhưng với các ổ có dung lượng thấp hơn, ví dụ như 2GB hoặc 4GB thì giá thành cũng không phải là không thể cáng đáng được hoặc có thể nói là hầu như bất kỳ cũng có thể mua được. Chúng ta hãy xem có thể làm gì với các ổ USB loại này trong vấn đề được nêu ra trong bài.
Có thể không đủ dung lượng để mang theo toàn bộ bộ sưu tập nhạc MP3 và album ảnh lớn đi kèm nhưng bạn sẽ có thể chạy Linux với hầu hết các ứng dụng cần thiết, cũng như mang theo một số dữ liệu khác. Vấn đề nữa ở đây là gì, đó là có nhiều cách chạy Linux từ một ổ USB flash mà không cần khởi động lại hệ điều hành, đặc biệt nếu bạn đang chạy Windows.
Những chuẩn bị cần thiết
Để cài đặt bản Linux đã có trên một ổ USB và chạy nó, bạn cần có những thứ dưới đây:
1. Một bản Linux có hỗ trợ cài đặt vào chạy từ USB. Bạn có thể yên tâm một phần vì hầu như các phân phối gần đây đều cho phép thực hiện công việc này, mặc dù vậy các bước chính xác để thực hiện chạy có thể hơi khác nhau đôi chút. Một số bản phân phối mặc định đã có khả năng thực hiện các nhiệm vụ này.
2. Ổ USB flash, tất cả các ổ USB đều không được tạo như nhau nhưng vấn đề này sẽ được chúng ta thảo luận bên dưới.
3. Một máy tính có thể khởi động từ cổng USB. Đây là vấn đề khá hóc búa với một số bạn vì nó phụ thuộc vào máy tính – khá ít các máy tính gần đây mới hỗ trợ việc khởi động từ ổ USB.
Nếu bạn thiết lập một cài đặt Linux để chạy từ bên trong bản thân Windows thì không cần đến sự hỗ trợ khởi động của USB mà chỉ cần truy cập vào ổ đĩa cứng được cắm thông qua cổng USB. Lưu ý rằng một số máy tính trong nhiều môi trường – ví dụ, trong môi trường công ty chẳng hạn – có thể được quản lý để ngăn chặn người dùng sử dụng các thiết bị lưu trữ thông qua cổng USB.
Sử dụng bản phân phối Linux nào?
Bản phân phối mà bạn chọn phụ thuộc vào một số vấn đề: kích thước của ổ đĩa flash sử dụng là bao nhiêu, bản Linux nào bạn sử dụng quen và thân thiện với nó và các tính năng gì mà bạn muốn hỗ trợ.
Kích thước của ổ đĩa là một hệ số, nhưng đây quả thực không phải vấn đề đáng để bạn lo lắng vì có thể căn cứ vào ngân sách của bạn. Các ổ flash ngày nay giá thực sự không quá đắt, USB 1G hoàn toàn có thể đáp ứng được bản Linux của bạn.
Việc bạn cần quan tâm là một bản Linux được thiết kế có nhỏ và nhẹ hay không (chạy). Hai bản Linux khá tốt trong vấn đề này đó là DamnSmallLinux và Puppy Linux.
Bộ cài đặt của Puppy Linux có hỗ trợ mọi thứ từ các ổ USB để giao tiếp với flash cardNhìn chung, bạn sẽ phải cần đến một USB có dung lượng khoảng 2-4GB để thực hiện một cài đặt với toàn bộ các chức năng từ bộ cài. Trong trường hợp không có đủ không gian để cài đặt thì hệ thống sẽ cảnh báo cho bạn biết được điều đó. Nếu bạn có một bản cài với trữ lượng lớn thì đồng nghĩa với nó là sẽ có nhiều ứng dụng và nhiều tính năng được hỗ trợ hơn.
Chọn ổ đĩa Flash?
Dường như các ổ đĩa Flash đều giống nhau về hình thức bên ngoài, nhưng bạn cần lưu ý có nhiều vấn đề khác nhau giữa tốc độ của các ổ. Một ổ đĩa có tốc độ "100x" hoặc cao hơn sẽ làm việc khá tốt, và hầu hết các ổ đĩa có hỗ trợ cho tính năng ReadyBoost của Vista cũng có chất lượng như vậy.
Chỉ có một thứ mà hầu hết các nhà sản xuất không làm rõ là hiệu suất của ổ đĩa liên quan đến sự tuần tự hay ngẫu nhiên. Vấn đề cần xem xét là mỗi byte trên ổ đĩa có cùng thời gian truy cập như nhau không? Đôi khi nhà sản xuất sẽ trộn các tốc độ nhớ như một tham số tiết kiệm chi phí, sử dụng một khối nhớ nhỏ flash có tốc độ nhanh cùng với một khối lớn có tốc độ chậm. Điều này có nghĩa là những thay đổi lớn về mặt hiệu suất phụ thuộc vào những gì được thực hiện trong USB. Để xác định điều đó, bạn có thể thấy sự khác biệt lớn về mặc hiệu suất giữa hai ổ đều có đánh giá của các nhà sản xuất giống nhau hoặc gần giống nhau.
Một điều thú vị khác nữa cần lưu ý ở đây là các ổ flash không hẳn phải là các thiết bị có thể di động mà còn có thể là flash card hoặc camera số hay các thiết bị chơi nhạc cũng có thể làm việc. Thêm nữa, dù Linux hay máy tính của bạn có hỗ trợ khởi động và chạy từ một thiết bị như vậy thì điều này sẽ phụ thuộc vào cách thiết bị khai báo bản thân nó với máy tính như thế nào và bản Linux mà bạn sử dụng có driver được thiết lập để quản lý nó hay không.
Bộ cài "pen drive" của DamnSmallLinuxKích hoạt sự hỗ trợ khởi động từ USB
Hầu hết các máy tính được sản xuất những năm gần đây đều hỗ trợ khởi động từ thiết bị USB. Điều đó cũng nói nên rằng, tính năng này không phải lúc nào cũng được cho phép một cách mặc định, và không phải lúc nào cũng được kích hoạt cho tất cả các cổng USB trên hệ thống.
Một trong các điểm đầu tiên để tìm kiếm thông tin về sự hỗ trợ khởi động từ USB đó chính là BIOS hệ thống. Với máy tính Dell (một ví dụ cụ thể để các bạn có thể thấy), tùy chọn quản lý USB mặc định là cho phép khởi động từ các thiết bị USB đính kèm – nhưng cần phải nhấn F12 mỗi lần khởi động để chọn thay cho thiết lập mặc định về khởi động của hệ thống, thông thường là từ ổ đĩa cứng.
Một thứ quan trọng khác ở đây là một số cổng USB trong XPS có thể bị vô hiệu hóa. Điều này được thực hiện để bạn có thể gắn thêm các ổ USB ngoài (có thể là flash hoặc ổ cứng thực sự).
Những người hay truy cập vào Web site của PenDriveLinux – một tài nguyên thú vị cho tất cả mọi thứ để có thể chạy Linux trên USB – có một cách nhanh chóng để test sự hỗ trợ khởi động từ USB đối với USB và máy tính của bạn. Họ sử dụng tiện ích SysLinux để làm cho ổ đĩa có khả năng khởi động và add thêm một bản copy Memtest86+, một cách để xem xem hỗ trợ khởi động có làm việc hay không. Lưu ý rằng nếu bạn đang sử dụng chúng trên Vista thì hãy mở cửa sổ nhắc lệnh quản trị để chạy file makeboot.bat hoặc nó sẽ không làm việc.
SysLinux được sử dụng rộng rãi để làm cho các ổ đĩa flash có khả năng khởi động đối với các bản Linux, chính vì vậy nó cũng là một công cụ mà chúng tôi sẽ đề cập đến. Lưu ý rằng nếu bạn bắt gặp một lỗi khởi động "boot error" hoặc một thông báo lỗi khác khi thực hiện khởi động một ổ được thực hiện với SysLinux thì cần phải chạy lệnh DISKPART CLEAN trên đĩa (lại từ tiện ích dòng lệnh quản trị) để xóa các thông tin bản ghi khởi động chủ, định dạng lại ổ đĩa và thử lại một lần nữa.
Từ CD cài đặt đến ổ flash có thể khởi động
Hầu hết các bản Linux, như Ubuntu đều có khả năng cài đặt trực tiếp từ USB như thể nó là một ổ cứng, tuy nhiên một số bản Linux lại làm việc với các ổ USB như một trường hợp đặc biệt nào đó. DSL là một ví dụ, nó có một bộ cài đặc biệt để tạo cài đặt USB-drive cho hệ điều hành. Nó cũng có thể tự cài đặt trực tiếp vào một ổ USB thông qua tiện ích Universal Installer đi kèm. Mặc dù vậy, các tùy chọn mặc định không làm việc trong trường hợp này; chúng tôi đã phải sử dụng tùy chọn "SysLinux" trong menu cài đặt của nó để tạo khởi động cho USB.
Trong các trường hợp, ổ đĩa USB sẽ được gắn và được nhận ra như một thiết bị SCSI ảo, như /dev/sda or /dev/sdb. Nếu bạn đang thực hiện cài đặt trên hệ thống đã có ổ cứng thì cần phải quan tâm nhiều đến các thiết bị được liệt kê trong phần quản trị partition và phải bảo đảm rằng bạn đang cài đặt đúng thiết bị. Ngược lại bạn có thể vô tình xóa ổ đĩa cứng. Bạn cũng cần phải bảo đảm rằng bộ cài phải tạo được khả năng khởi động cho thiết bị mục tiêu và viết bản ghi khởi động chủ thích hợp vào đĩa, mặc dù hầu hết thời gian chúng đều được thực hiện một cách tự động.
Từ Live .ISO đến ổ Flash có khả năng khởi động
Nếu phiên bản Linux bạn đang xem xét có một phân phối live CD (hầu hết đều như vậy), thì nó cũng có thể gắn .ISO cho live CD đó trên ổ flash và chạy chương trình này từ đây. Ưu điểm của cách thực hiện này là nhanh và hầu hết các máy đều có thể khởi động từ một CD, cũng có thể khởi động từ ổ flash.
Ưu điểm của cách cài đặt này là một phân phối live CD không được bền theo mặc định. Bất cứ thay đổi nào đối với hệ thống sẽ bị mất trong lần khởi động tiếp theo, trừ khi bạn tạo dự phòng để lưu dữ liệu người dùng. Một số phân phối live cho phép điều này, nhưng không phải lúc nào cũng được bảo đảm. Nếu bạn muốn một bản live không để lại bất cứ một dấu vết gì –ví dụ đối với an toàn của việc duyệt hoặc khôi phục hệ thống – thì đây là lựa chọn hoàn hảo cho bạn.
Một số thành viên PenDriveLinux đã tạo các kịch bản để có thể tự động hóa quá trình cho một số bản phổ biến như Ubuntu 8.04 và PCLinuxOS. Mẹo của họ (một trong những cách khá thông minh) là sử dụng ứng dụng nén 7-Zip mã nguồn mở để duyệt .ISO và giải nén các file chính từ nó để cho phép SysLinux tạo một ổ đĩa có khả năng khởi động.
Các kỹ thuật cơ bản có thể được áp dụng đối với bất kỳ bản Linux nào chạy từ hệ thống file live ISOLINUX. Nếu bạn muốn tạo một ổ flash khởi động từ .ISO của phân phối live CD, hãy thực hiện theo các bước dưới đây:
1. Format ổ đĩa flash. Bạn có thể cần phải sử dụng DISKPART CLEAN như được mô tả trong phần trên . Vì khả năng tương thích, hãy sử dụng FAT hoặc FAT32 cho hệ thống file. (FAT ở đây dường như là lựa chọn tốt nhất).
2. Sử dụng 7-Zip hoặc công cụ đọc .ISO khác để mở nén toàn bộ nội dung bên trong của .ISO vào ổ flash. Bảo đảm rằng thư mục gốc của .ISO phải tương ứng với thư mục gốc của ổ flash; không bung nội dung vào các thư mục con trên ổ flash.
3. Sử dụng SYSLINUX -ma : (trong giao diện quản trị dòng lệnh nếu bạn sử dụng Vista) để ghi các file hệ thống, với là ký tự ổ đĩa đang hiện diện cho ổ flash. Nếu bạn chạy SysLinux từ một hệ điều hành nào đó không phải Windows thì các chuyển đổi -ma ở đây không cần thiết.
4. Với nhiều bản live, có một file trong thư mục gốc của ổ đĩa có nhãn ISOLINUX.CFG. Nhãn này có thể cần được đặt lại tên thành SYSLINUX.CFG để bảo đảm cho mọi thứ làm việc tốt.
5. Rút ổ flash và thử khởi động nó trên hệ thống mục tiêu của bạn
Một số bản live của Linux sẽ có thư mục gốc \boot trong .ISO và thư mục \isolinux bên trong nó. Ví dụ, bạn sẽ cần phải chuyển các nội dung của \boot\isolinux vào thư mục gốc của ổ flash trước khi đặt lại tên các file và sau đó áp dụng SysLinux. Thứ tự của các sự kiện trên là rất quan trọng.
QEMU Linux
Một số bộ đọc có thể thân thiện với việc sử dụng máy ảo để chạy Linux trên một hệ điều hành khác – thường là cách thực hiện để kiểm tra bản Linux đã có bên trong Windows mà không tạo kịch bản dual-boot.
Thứ tương tự cũng có thể được thực hiện với phiên bản flash-drive của Linux, theo gói mô phỏng máy tính mã nguồn mở có tên QEMU.
QEMU mã nguồn mở cho phép bạn chạy Linux trong máy tính ảo trên một hệ điều hành khácGói này đủ nhỏ thích hợp với hầu hết các ổ flash cùng với bất cứ phân phối nào mà bạn đang sử dụng và có thể được bắt đầu bằng cách thực thi một file batch đơn giản. Bạn còn có cả sự hỗ trợ kết nối theo bất cứ mạng nào đang chạy trên host. Đây là cách thực hiện điều đó.
1. Format ổ flash với FAT hoặc FAT32 (mục đích tương thích).
2. Copy file .ISO mà bạn muốn sử dụng vào thư mục gốc của ổ đĩa
3. Giải nén file thực thi QEMU vào thư mục có tên \QEMU.
4. Sử dụng lệnh dưới đây để chạy QEMU từ gốc của ổ đĩa (bạn có thể chỉnh vào một file batch):.\qemu\qemu.exe -L .\qemu -cdromCó một số tùy chọn khác có thể được bỏ qua ở đây. Nếu chạy QEMU không có các khóa chuyển đổi dòng lệnh thì bạn sẽ thấy được một tập các tùy chọn có sẵn, từ đó có thể chọn tùy chọn nào theo nhu cầu của mình.
5. Chạy QEMU bên trong Windows. Máy được mô phỏng này sẽ xuất hiện trong Windows và bạn có thể hoàn toàn giải phóng con trỏ bằng cách sử dụng Ctrl+Alt key.
Lưu ý ở đây là bạn sẽ không thể xem hiệu suất nếu khởi động hệ thống mặc định theo nguyên bản ban đầu. QEMU có một driver Windows để cho phép một số hiệu ứng tăng hiệu suất.
Nếu bạn muốn tạo một lưu trữ liên tục cho ổ flash, có một số cách để thực hiện điều này. QEMU cho phép bạn đặt bất kỳ file nào như thực hiện với ổ đĩa cứng, chính vì vậy bạn chỉ cần tạo một file lớn trong ổ flash sẽ giữ dữ liệu người dùng của bạn, sử dụng tùy chọn -hd QEMU để đặt, format ổ đĩa trong live Linux session và lưu dữ liệu người dùng của bạn ở đó giữa các session.
Tùy chọn thứ hai có khác đôi chút so với tùy chọn ban đầu, ngoại trừ lưu dữ liệu trên ổ đĩa đó, bạn cài đặt Linux trên nó và sau đó thiết lập QEMU để khởi động image ổ đĩa cứng thay cho .OSI. Lưu ý rằng cách tốt nhất để thực hiện là chuẩn bị tất cả các file trên máy tính trước, sau đó copy image này và các file thực thi QEMU vào ổ flash.
Cuối cùng, những thành viên của PenDriveLinux đã tạo một gói để bạn có thể sử dụng, gói này gồm có QEMU và một file batch với một số tùy chọn chung. File batch này có thể tùy chỉnh với các tùy chọn dòng lệnh bạn muốn sử dụng, bên cạnh đó cũng có thể thay đổi sao cho hợp với những mô tả ở trên.
MokaFive
Vẫn còn một cách khác để chạy cài đặt Linux từ một ổ flash là thông qua MokaFive. Đây là một ứng dụng thương mại cho phép bạn đóng gói các máy ảo vào một ổ flash để phân phối lại trên mạng. MokaFive sử dụng Vmware để thực hiện mô phỏng máy tính, cách làm này thường tốt hơn QEMU và cũng cho phép một số kỹ thuật khóa phức tạp khác. Phiên bản cơ bản của MokaFive hoàn toàn được miễn phí (mặc dù không phải là mã nguồn mở) nhưng cũng làm việc rất tốt. Nó cho phép bạn có thể truy cập vào các thiết bị trên máy chủ như các máy quét và máy in.
MokaFive cho phép bạn tạo ổ flash khởi động có thể chạy trên các hệ điều hành mô phỏngMokaFive toolkit gồm có BareMetal player, đây là một công cụ cho phép bạn cài đặt MokaFive VM vào flash drive, khởi động từ nó và chạy một cách mặc định. Thiết bị phải có tối thiểu 2GB dung lượng để thực hiện công việc này. Lưu ý rằng do BareMetal player được bảo vệ để chống lại sự can thiệp nên chỉ có một cách duy nhất để đưa máy ảo vào trong là load trên giao diện của chính BareMetal player.
(Theo Information Week)
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
linux này dùng mã nguồn mở nên mún tự fix lổ hổng cũng ok phải ko chị ami
**==**==**==BUCKWHEAT CLUB**==**==**==
10 cách bảo mật máy tính Linux![]()
Một máy tính Linux thường chạy nhanh hơn và bảo mật hơn so với máy tính có cài các hệ điều hành khác. Đôi khi, cách dễ nhất để bảo mật lại là phương thức dễ quên nhất. Hãy tham khảo 10 cách sau để có thể bảo vệ một máy Linux. Lưu ý rằng chúng tôi nêu ra cách này chỉ áp dụng đối với một máy thông thường, không phải máy chủ. Bảo mật máy chủ Linux sẽ phải đòi hỏi những cấu hình kiểu khác.
1. Khóa màn hình và log out khỏi hệ thống
Phần lớn người dùng thường quên rằng Linux là một môi trường máy tính đa người dùng. Do đó, bạn phải log out khỏi máy tính để người khác có thể log in vào máy khi cần dùng. Tất nhiên việc log out không phải là tùy chọn duy nhất. Nếu chỉ một mình bạn sử dụng máy tính đó, bạn sẽ phải khóa màn hình lại thay vì log out. Khóa màn hình rất đơn giản là bạn sẽ phải nhập vào một mật khẩu nếu muốn vào lại màn hình làm việc. Điểm khác ở đây là khi khóa màn hình thi các ứng dụng trên máy tính vẫn chạy, khi quay trở lại màn hình làm việc, các chương trình đó sẽ tiếp tục chạy. Thật an toàn và bảo mật.
2. Ẩn các file và thư mục một cách nhanh chóng
Trong Linux, các file và thư mục được ẩn đi bằng cách thêm một dấu chấm “.” trước tên của file hoặc thư mục. Ví dụ nếu một file có tên test đang hiển thị một cách bình thường thì file .test sẽ bị ẩn đi. Phần lớn mọi người đều không biết rằng chạy câu lệnh ls –a sẽ hiển thị tất cả các file và thư mục ẩn. Vì vậy, nếu bạn có thư mục và file ẩn không muốn đồng nghiệp sử dụng máy nhìn thấy, chỉ đởn giản là thêm một dấu chấm vào trước tên file và thư mục. Bạn cũng có thể thực hiện việc này từ dòng lệnh: mv test .test.
3. Mật khẩu mạnh
Mật khẩu trên một máy tính Linux chính là chiếc chìa khóa vàng. Nếu bạn đánh mất mật khẩu hoặc mật khẩu quá đơn giản, chiếc chìa khóa vàng này sẽ trở thành là của tất cả mọi người. Và nếu bạn sử dụng Ubuntu thì một mật khẩu sẽ cho người dùng được truy cập nhiều hơn là sử dụng Fedora. Để không gặp phải vấn đề mất dữ liệu với nguyên nhân không đáng có này, hãy đặt mật khẩu mạnh. Có rất nhiều cách đặt mật khẩu mạnh mà chúng tôi đã giới thiệu trong nhiều bài trước đây, bạn có thể đọc tham khảo.
4. Tránh cài đặt các ứng dụng chia sẻ file
Rất nhiều người dùng Linux thường xuyên phải sử dụng việc chia sẻ file. Nếu thực hiện việc chia sẻ này trong mạng công ty, bạn có thể mở và truy cập vào máy tính của những người dùng khác thì ngược lại, họ cũng có thể truy cập vào chính những dữ liệu nhạy cảm trên máy tính của bạn. Vì vậy, có một luật đưa ra là không cài đặt các công cụ chia sẻ file.
5. Cập nhật thường xuyên máy tính là một điều sáng suốt
Linux không như Windows. Với Windows, bạn có thể lấy các bản cập nhật bảo mật khi Microsoft phát hành ra chúng (có thể mất đến vài tháng mới có một bản vá). Còn với Linux, một cập nhật bảo mật có thể được cung cấp ngay sau vài phút hoặc vài giờ từ khi phát hiện ra lỗ hổng. Cả KDE và GNOME, đều có các applet cập nhật cho Panel. Hãy cập nhật ngay khi có bản vá bảo mật được cập nhật. Đừng trì hoãn việc cập nhật bảo mật bởi đó cũng có thể là nguyên nhân gây nguy hiểm cho máy tính của bạn.
6. Cài đặt chương trình bảo vệ virus
Dù tin hay không thì một chương trình bảo vệ virus trên máy tính Linux là rất cần thiết. Tất nhiên, khả năng virus gây ra vấn đề trên hệ thống Linux của bạn là rất thấp nhưng nếu các email được forward tới các máy tính Windows khác thì có thể là nguyên nhân gây ra vấn đề. Một chương trình bảo vệ virus tốt (như ClamAV) sẽ đảm bảo các email gửi đi từ máy tính của bạn sẽ không chứa theo bất kỳ mối nguy hại nào có thể quay trở lại phá hoại bạn (hay công ty bạn).
7. Kích hoạt SELinux
SELinux (Security-Enhanced Linux) được tạo bởi NSA. Những gì SELinux làm được là khóa điều khiển truy cập vào các ứng dụng. Thật tuyệt vời phải không. Chắc chắn SELinux cũng có một vài điều gây khó chịu cho người sử dụng như việc gây chậm cho hệ thống hay khiến cho một vài ứng dụng trở nên khó cài đặt. Nhưng những tiện lợi về bảo mật khi sử dụng SELinux (hoặc Apparmor) vượt trôi hơn so với những nhược điểm mà nó có. Bạn có thể kích hoạt SELunux trong quá trình cài đặt Fedora.
8. Tạo /home trong một partition riêng biệt là phương pháp an toàn
Mặc định Linux cài đặt thư mục /home của bạn vào root hệ thống. Chắc chắn điều này không có gì phiền hà nhưng 1) Vì đây là chuẩn nên mọi người đều có truy cập vào hệ thống và biết chính xác vị trí lưu dữ liệu của bạn; 2) Nếu máy tính chẳng may gặp sự cố, bạn có thể bị mất dữ liệu. Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể đặt thư mục /home sang một ổ cứng hay một partition khác. Điều này sẽ giúp bạn luôn am tâm với dữ liệu của mình.
9. Sử dụng trình desktop ngoài chuẩn
Sử dụng máy tính với trình quản lý cửa sổ khác (Enlightenment, Blackbox, Fluxbox...) không chỉ mang lại cho bạn cái nhìn và cảm nhận mới, chúng còn có hệ thống bảo mật đơn giản trước những ánh mắt tò mò mà bạn chưa bao giờ để ý. Bạn sẽ làm thế nào? Rất đơn giản. Tạo một biểu tượng desktop của ứng dụng bạn muốn sử dụng. Trừ phi người dùng biết làm thế nào để vào dòng lệnh (bằng cách log out hoặc nhấn Ctrl + Alt + F*, với * là biểu tượng trên desktop khác với chương trình mà bạn muốn sử dụng), nếu không sẽ không thể khởi chạy bất kỳ ứng dụng nào khác ngoài ứng dụng đã đặt trước. Phần lớn người dùng không có ý tưởng về việc xem xét máy bằng mọi cách, họ sẽ không thể biết đến các file của bạn.
10. Ngừng các dịch vụ
Đây là một máy tính bàn Linux, không phải máy chủ. Vì vậy tại sao bạn phải chạy các dịch vụ như httpd, ftpd và sshd? Bạn hoàn toàn không cần chúng và còn làm tăng thêm nguy cơ bảo mật (trừ khi bạn biết làm thế nào để khóa chúng lại). Vậy thì đừng chạy chúng nữa. Kiểm tra file /etc/inetd.conf và đảm bảo rằng các dịch vụ không cần thiết đã được chú thích là đóng.
(Theo Techrepublic)
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x
Bạn ami là nữ là có công tìm tòi và am hiểu HDH Linux quả là rất hiếm gặp! Bạn đang học hay đi làm? Có gì có thể trao đổi kinh nghiệm thêm! Mình đang làm quản trị hệ thống Linux nè!!!
Bạn đừng khiêm tốn, mình thấy bạn có kiến thức rất tốt trong lĩnh vực này đấy!!! Cố gắng phát huy để giúp đỡ các thành viên YaClub bạn nhé!!!
Những hệ điều hành “giống” Ubuntu![]()
Đi kèm với Ubuntu là những phiên bản hệ điều hành tương tự. Trong đó, bên cạnh phần lớn những điểm chung về nhân hệ điều hành, kiến trúc hệ thống và các ứng dụng nền tảng, mỗi phiên bản đều có những nét riêng. Vì vậy, nếu có cơ hội khảo sát tất cả các hệ điều hành “Like” Ubuntu, chúng ta sẽ dễ dàng chọn lựa một phiên bản phù hợp với yêu cầu học tập, làm việc và nghiên cứu của mình.
1. Bắt đầu với Edubuntu, một phiên bản có nguồn gốc từ Ubuntu, được tùy biến để phù hợp với mục tiêu giáo dục. Sản phẩm này đang được sử dụng phổ biến trong các trường ở cấp tiểu học và trung học trên thế giới.
Edubuntu bao gồm một số lượng lớn các ứng dụng được dùng trong các nhà trường như GCompris, KDE Edutainment Suite, và Schooltool Calendar. Hệ điều hành này ra đời nhằm mục đích giúp cho thầy cô giáo/giảng viên dễ dàng xây dựng các bài giảng, thiết kế môi trường học tập trực tuyến với những hình ảnh, biểu đồ trực quan sinh động trong khoảng thời gian ngắn mà không yêu cầu cao về kiến thức và kỹ năng kỹ thuật.
Edubuntu sử dụng môi trường đồ họa GNOME cho giao diện của mình, với yêu cầu hệ thống PC có cấu hình tối thiểu là: đĩa cứng dung lượng 2.5 GB, bộ vi xử lý tốc độ 1 GHz và bộ nhớ RAM 256 MB. Bạn có thể truy cập vào địa chỉ http://www.edubuntu.org/Download để download.
2. Tiếp theo là Kubuntu. Phiên bản này sử dụng môi trường đồ họa KDE thay cho GNOME. Bên cạnh sự tương đồng về kiến trúc, Kubuntu đồng thời cũng sử dụng chung các repository như của Ubuntu.
Cùng với GNOME, KDE cũng là một môi trường đồ họa nổi bật, được sử dụng phổ biến trong các hệ điều hành Linux. KDE mang đến một giao diện mềm mại và thân thiện cho Kubuntu và những ứng dụng trên đó.
Kubuntu yêu cầu hệ thống PC có cấu hình tối thiểu là: đĩa cứng dung lượng 3 GB và bộ nhớ RAM 256 MB. Bạn có thể truy cập vào địa chỉ http://www.kubuntu.org/download.php để download.
3. Xubuntu cũng có nguồn gốc từ Ubuntu, kết hợp với môi trường đồ họa Xfce. Hệ điều hành này ra đời nhằm phục vụ cho những người dùng đang sở hữu máy tính với cấu hình thấp, hoặc với những đối tượng cần một môi trường làm việc tốc độ nhanh và hiệu suất cao.
Xfce là một môi trường đồ họa đơn giản và nhỏ gọn (lightweight desktop environment) được dùng phổ biến trong các hệ thống Unix. Ưu điểm của thư viện này là tính dễ sử dụng, cấu hình đơn giản và giúp hệ thống máy tính hoạt động với tốc độ cao.
Khi khởi động lần đầu tiên, desktop của Xubuntu không có bất kỳ biểu tượng nào. Tuy nhiên, những ứng dụng cơ bản nhất đều được tích hợp sẵn, bao gồm công cụ soạn thảo văn bản Abiword, bảng tính điện tử Gnumeric, trình duyệt Firefox và công cụ gửi nhận thư Mozilla Thunderbird.
Xubuntu yêu cầu hệ thống PC có cấu hình tối thiểu là: đĩa cứng dung lượng 1,5 GB, bộ nhớ RAM 128 MB để chạy và 192 MB để cài đặt. Bạn có thể truy cập vào địa chỉ http://www.xubuntu.org/get để download.
4. Nếu bạn muốn xây dựng một phiên bản Ubuntu riêng cho mình, hãy chọn Gobuntu. Đây là hệ điều hành GNU/Linux, có nền tảng là Ubuntu. Mục đích của Gobuntu là cung cấp một platform để những lập trình viên quan tâm, tự mình sửa chữa, bổ sung và nâng cấp nhằm tạo ra một phiên bản hệ điều hành mang bản sắc riêng. Vì lẽ đó, Gobuntu chỉ bao gồm các ứng dụng open-source và non-restricted. Các ứng dụng, driver và firmware không cung cấp đầy đủ mã nguồn, hoặc license không cho phép sao chép, sửa chữa và phân phối lại sẽ không có trên Gobuntu.
Về yêu cầu hệ thống, Gobuntu tương tự Ubuntu với đĩa ứng dung lượng 4 GB và bộ nhớ RAM là 384 MB. http://cdimage.ubuntu.com/gobuntu/releases/7.10/release là nơi bạn có thể truy cập để download hệ điều hành này.
5. Ubuntu Mobile Internet Device (MID) là phiên bản Ubuntu nhỏ gọn sử dụng cho các phương tiện di dộng.
Ubuntu MID đem đến cho bạn một công cụ giải trí và khai thác Internet tuyệt hảo. Với ưu điểm hỗ trợ những công nghệ nổi bật như Web 2.0/AJAX, Adobe Flash, Java… phiên bản này giúp cho những phương tiện di động của bạn trở nên cực kỳ hữu ích với các tính năng duyệt web, email, media, camera, VoIP, chat, GPS, digital TV, games, calendar…
6. Cuối cùng, không thể không nhắc đến Ubuntu Studio, một phiên bản Ubuntu chuyên về lĩnh vực multimedia. Studio thích hợp với những người say mê hoặc những chuyên gia trong các lĩnh vực giải trí và đồ họa.
Với một tập hợp đa dạng các ứng dụng giải trí và đồ họa như GIMP, Blender, PiTiVi, Cinepaint… Studio hy vọng sẽ phát huy mạnh mẽ trí tưởng tượng và sức sáng tạo của bạn. Hãy bắt đầu với Ubuntu Studio tại http://ubuntustudio.org.
--------------------------------------------------------------
Tô Thanh Hải - Email: tthai@huesoft.com.vn
Mỗi bàn tay...luôn cần 1 bàn tay :x