+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/3 1 2 3 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 10 trên 24

Ðề tài: Sưu tầm chiến thuật đá bóng cho anh em tham khảo nè.....

          
  1. #1
    xe_co_nouvo
    Khách

    Sưu tầm chiến thuật đá bóng cho anh em tham khảo nè.....

    Bằng thứ bóng đá thực dụng dựa trên sơ đồ 4-4-2 truyền thống, Hy Lạp đã tạo nên bất ngờ lớn khi qua mặt một loạt đại gia để đăng quang cách đây 4 năm. Còn năm nay, đội hình chiến thuật nào sẽ lên ngôi?

    Nhìn chung, 4-4-2 vẫn là phổ biến và được ưa chuộng hơn cả với gần chục đội sử dụng, nhưng nó không đóng khung trong một lối chơi nhất định mà linh hoạt thay đổi theo cách tiếp cận của mỗi anh tài. Hy Lạp, từng thử nghiệm 4-3-3 giàu tính tấn công và không đạt hiệu quả thật sự tích cực như mong đợi, đã trở lại với "bài tủ" từng đưa họ lên ngôi báu tại Euro 2004. Trong sơ đồ 4-4-2 được áp dụng cho giai đoạn cuối vòng loại và một số trận giao hữu gần đây, thày trò Rehhagel tái hiện hình ảnh của họ ở Bồ Đào Nha năm nào khi ra sân với ưu tiên số một là chơi chặt chẽ và không bị thủng lưới. Họ tập trung số đông cầu thủ bên phần sân nhà, trong đó có 2 tiền vệ thủ - thường là Basinas và Katsouranis - che chắn phía trước bộ tứ hậu vệ do "tòa tháp" Dellas chỉ huy. Khâu tấn công của Hy Lạp gần như phó thác cho những đường chuyền dài vượt tuyến và khả năng độc lập tác chiến của các chân sút Charisteas và Gekas.

    Cũng vận hành 4-4-2 nhưng không đến nỗi "tiêu cực" như Hy Lạp, Hà Lan, dưới thời HLV Van Basten, hướng đến sự chặt chẽ về lối chơi. Nhà cầm quân trẻ này luôn yêu cầu các học trò ra sân với phương châm lấy hàng phòng ngự làm nền tảng cho mọi ý đồ chiến thuật. Theo đó, Van Basten vẫn bố trí hai tiền vệ có xu hướng phòng ngự ở khu vực giữa sân và chỉ tấn công một cách chừng mực. Tuyển Pháp thời hậu Zidane cũng có xu hướng chơi tương tự khi thường xuyên ra quân bằng sơ đồ đăng đối, cân bằng và kín kẽ với bộ tứ hậu vệ, cặp cầu thủ đánh chặn cày xới ở vòng tròn trung tâm, hai tiền vệ biên cơ dộng hỗ trợ cho cặp tiền đạo. Ngoài hai điển hình này, sơ đồ 4-4-2 và lối chơi chặt chẽ còn là "vũ khí" của Croatia, Romania, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ...

    Ở thái cực ngược lại, vẫn là 4-4-2, nhưng Đức và Bồ Đào Nha lại là những hình mẫu cho thứ bóng đá tấn công khoáng đạt. Với tuyển Đức hiện nay, họ từng thành công bằng sơ đồ và cách chơi này khi đoạt vị trí thứ ba ở World Cup 2006 dưới thời Klinsmann. Khi HLV này ra đi, Joachim Low kế thừa, bổ sung vài nhân tố mới như Fritz, Gomez, Kuranyi... và biến Đức thành "cỗ xe tăng" có sức công phá khủng khiếp - ghi 35 bàn ở vòng loại. Còn Bồ Đào Nha, sau một thời gian dài đau đầu với các thử nghiệm, HLV Scolari quyết định chọn 4-4-2 để tận dụng tối đa hỏa lực ở tuyến trên. Theo đó, Ronaldo, chân sút vừa ghi 42 bàn cho MU mùa vừa qua, được đẩy lên đá cặp tiền đạo với Nuno Gomez, còn hai biên được giao cho Quaresma (phải) và Simao (trái). Có chút mạo hiểm vì chỉ xếp một tiền vệ thủ duy nhất là Petit, nhưng sự hiện diện của 4 ngôi sao trên cộng thêm chuyên gia làm bóng Deco từ giữa sân sẽ biến Bồ Đào Nha thành đội có hàng công khủng nhất tại Euro 2008.

    Tuyển Italy, lừng danh với nghệ thuật phòng ngự catenaccio, thì dũng cảm từ bỏ sở trường ấy và sơ đồ 4-5-1 từng đưa họ đến ngôi vô địch World Cup cách đây 2 năm để khoác lên mình "tấm áo choàng" 4-3-3 mới và hào nhoáng dưới thời HLV Donadoni. Thay vì đá chặt chẽ, thận trọng như vị tiền nhiệm Lippi, Donadoni, xuất thân từ một tiền vệ cánh có khả năng xuyên phá cao độ, lại hướng các học trò đến lối chơi giàu sức tấn công hơn qua cách bố trí hai tiền đạo cánh là Camonaresi và Di Natale hỗ trợ cho trung phong cắm Luca Toni, đồng thời tận dụng triệt để óc sáng tạo và khả năng phát động tấn công của Pirlo ở tuyến giữa. Cách sắp xếp này một mặt giúp Italy gây sức ép nhiều hơn bên phần sân đối phương, giành sự chủ động về lối chơi, mặt khác giảm bớt sức ép lên hàng thủ - điều rất có ý nghĩa khi họ vừa mất trung vệ kỳ cựu Cannavaro.

    Không quá thiên về tấn công kiểu Đức, Bồ Đào Nha hay Italy, thực dụng như Pháp, cũng chẳng phòng ngự tiêu cực như Hy Lạp, Tây Ban Nha hướng về một lối chơi kết hợp hài hòa giữa tấn công và phòng ngự theo sơ đồ 4-1-4-1 khi đến với Euro 2008. Theo đó, HLV Aragones chỉ xếp một trung phong cắm (Torres hoặc Villa) và ưu tiên nhân sự cho tuyến giữa với việc bố trí 4 tiền vệ giàu kỹ thuật và có kỹ năng làm bóng siêu hạng Silva (trái), Fabregas, Xavi (giữa) và Iniesta (phải). Phía sau bộ tứ ấy là "máy quét" Senna. Tùy trường hợp, Tây Ban Nha cũng có thể linh hoạt chuyển sang sơ đồ 4-1-3-2 để tận dụng tối đa khả năng săn bàn của cặp Villa - Torres. Khi ấy, nhờ chơi công thủ toàn diện, khả năng cầm trịch và phất những đường chuyền dài chuẩn xác, Xabi Alonso sẽ được trọng dụng ở vị trí thấp nhất hàng tiền vệ. Sau nhiều năm liền thất bại với lối đá cánh và sơ đồ 4-4-2 cổ điển, sự cách tân chiến thuật của HLV Aragones đang được kỳ vọng sẽ đi đến vinh quan tại Áo - Thụy Sĩ hè này.

    Formation - Chiến Thuật
    Hai yếu tố chính để làm nên chiến thắng là chiến thuật và con người. Hai yếu tố này liên hệ chặt chẽ với nhau: một đội bóng với một dàn cầu thủ như vậy thì HLV phải liệu cơm gặp mắm chọn chiến thuật nào hoặc với một chiến thuật có sẵn thì lại phải chọn cầu thủ thích hợp chơi vị trí nào. Chiến thuật không đơn thuần là chỉ là sự sắp xếp sơ đồ nào 4-4-2, 4-3-3, 3-5-2. Chiến thuật là sự tổng hợp: đội hình + lối chơi phòng ngự (khu vực, libero, giăng ngang..), lối chơi tấn công (biên, trung lộ, phối hợp nhỏ cộng bật tường hay chuyền dài) + thay người+…( tung tin đồn hoả mù, khích tướng, gây nổi nóng cho đối phương).

    Chiến thuật là đá bóng bằng đầu để tìm lên công thức chiến thắng. Trước kia người Đức nổi tiếng với libero đỉnh cao là 1974, Braxin đá 4-2-4 tại 1970, Hà Lan với tổng lực 4-3-3, Italia đổ bê tông Catenaccio. Bóng đá hiện đại trong một trận đấu một đội bóng có thể thay đổi rất nhiều chiến thuật. Điều đó thể hiện sự nhạy bén của mỗi HLV với tình hình trên sân và phụ thuộc vào những cầu thủ mà HLV đó có

    Chủ để này bàn về chiến thuật các đội tham dự Euro. Đầu tiên mình nói về đội Đức.

    Chiến thuật Đức thường sử dụng là 4-4-2 với sự phối hợp giữa 2 sơ đồ 4-2-2-2 và 4-1-2-1-2. Đây chính là chiến thuật đã đem lại thành công cho đội tuyển tại vòng loại. Khi đó bộ tứ tiền vệ Schweni- Frings- Ballack – Schneider hoạt động tuyệt vời chơi gắn bó và bổ xung cho nhau rất tuyệt khiến Đức luôn làm chủ khu trung lộ từ đó áp đặt thế trận lên đối phương. Còn cặp tiền đạo có thể đá ngang nhau hoặc thường sẽ có tiền đạo lùi làm nhiệm vụ liên kết với hàng tiền vệ và lôi kéo đối phương – Klose. Trong chíến thuật này thì vai trò Ballack là rất quan trọng. Với đối thủ trung bình yếu thì Ballack có thể đá như một số 10 - tiền vệ hộ công (AMF) sau 2 tiền đạo ( Klinsmann từng rất ưng ý Ballack trong vai trò này - tức giải phóng bớt nhiệm vụ phòng ngự cho anh, điển hình là trận gặp Costa Rica ở WC06). Tuy nhiên để Ballack đá lùi xuống như một tiền vệ trung tâm (CMF) sẽ phát huy hết điểm mạnh của Ballack tăng khả năng tranh chấp và di chuyển cũng như có mặt tại những điểm nóng trên sân của Ballack.


    Tuy nhiên một đội bóng là phải luôn đương đầu với khó khăn là thiếu vắng lực lượng và phong độ cầu thủ.
    Để hình (a) thì chủ yếu Frings làm nhiệm vụ phòng ngự từ xa . Khi mà Metzelder chưa lấy lại phong độ, cặp trung vệ còn chưa phối hợp tốt thì với đội hình này khả năng phòng ngự trung lộ sẽ rất đáng lo ngại nhất là những pha tấn công vỗ mặt.
    Để hình (b) kéo Ballack xuống thấp một tí hỗ trợ Frings. Thì vài trò của 2 tiền vệ cánh trong việc tấn công là rất quan trọng, họ không chỉ bám biên mà còn phải di chuyển bó vào trong làm nhiệm vụ như một hộ công. Tuy nhiên việc mất Schneider và phong độ thấp của Schweni , cũng như Fritz dù đa năng nhưng hạn chế về kĩ thuật vẫn còn ít kinh nghiệm ở tuyển lên hai tiền vệ cánh này hiện tại còn chưa đáp ứng được khả năng hỗ trợ tấn công gây áp lực lên hàng phòng ngự đối phương. Chính điều này làm đội trưởng Ballack phải di chuyển nhiều hơn. Lúc thì hỗ trợ thủ lúc lại phải lao lên để tấn công.Để giải quyết một phần vấn đề này thì Klose phải đạt phong độ cao trong vai trò tiền đạo lùi
    Vừa rồi HLV Loew phát biểu sẽ để Podi đá tiền vệ (cánh trái) và Schweni đá cánh phải. Nếu đá cặp tiền vệ cánh như vậy thì khả năng phòng thủ biên sẽ giảm đi và Ballack cũng Frings sẽ phải phòng ngự nhiều hơn.

    Người Đức vốn có đức tính bảo thủ và kiên định từng mất một thời gian để chuyển từ 3-5-2 sang 4-4-2. Hiện tại không phải là đòi hỏi đội tuyển một chiến thuật mới. Mà là Đức cần có chiến thuật dự phòng trong tình hình nhân lực như hiện nay. Có thể là sơ đồ 4-3-3 kết hợp 4-5-1.




    ************************************************** *************



    CÁC SƠ ĐỒ CHIẾN THUẬT BÓNG ĐÁ KINH ĐIỂN

    Sơ đồ 4-4-1-1

    Thủ môn - 4 hậu vệ (hai biên; hai trung vệ) - 4 tiền vệ (hai cánh, hai trung tâm) - một hộ công - một tiền đạo (trung phong).


    GK - thủ môn
    LB - hậu vệ trái
    CB – trung vệ
    RB - hậu vệ phải
    LM - tiền vệ trái
    CM - tiền vệ trung tâm
    RM - tiền vệ phải
    CF – trung phong


    BS - hộ công

    Ngày càng có nhiều CLB của châu Âu sử dụng một cầu thủ chơi ngay dưới trung phong, và phía trên hàng tiền vệ (gọi là hộ công).

    Tầm hoạt động chính của cầu thủ hộ công là ở giữa hàng thủ và tiền vệ của đối phương. Vì vậy, theo lý thuyết, cầu thủ này sẽ có nhiều thời gian và khoảng trống hơn khi xử lý bóng so với các vị trí khác.

    Một hộ công phải có khả năng cầm bóng tốt, kỹ thuật cá nhân khéo, tốc độ, nhãn quan chiến thuật cao, không những kiến tạo cơ hội làm bàn cho trung phong mà còn cần có khả năng dứt điểm như một tiền đạo thực thụ khi có thời cơ.


    Sơ đồ 4-5-1

    Thủ môn - 4 hậu vệ (hai biên; hai trung vệ) - 5 tiền vệ (hai cánh, 3 trung tâm) – một tiền đạo (trung phong).


    GK - thủ môn
    LB - hậu vệ trái
    CB – trung vệ
    RB - hậu vệ phải
    LM - tiền vệ trái
    CM - tiền vệ trung tâm
    RM - tiền vệ phải
    CF – trung phong


    Đây là sơ đồ mà nhiều đội chọn khi phải du đấu trên sân của một đối thủ mạnh. Một đội muốn bảo toàn tỷ số thuận lợi đã giành được ở lượt đi (trong cuộc đấu có hai lượt trận) cũng thường chọn đấu pháp này.

    Về lý thuyết, với 5 tiền vệ, một đội bóng sẽ mạnh hơn trong việc kiểm soát khu trung tuyến, an toàn hơn trong khâu phòng thủ. Khi đã chọn sơ đồ 4-5-1, đội bóng đó sẽ thi đấu hết trận với tư tưởng không thua là thắng, nhưng họ cũng rất nguy hiểm trong những pha phản công.

    Để sơ đồ này vận hành trơn tru, tiền đạo duy nhất (trung phong) phải là cầu thủ có kỹ thuật cá nhân tốt, tốc độ cao, có khả năng đột phá, di chuyển hợp lý và dứt điểm tinh tế. Nếu không, mối liên hệ giữa trung phong và hàng tiền vệ sẽ dễ dàng bị đối thủ cắt đứt


    Sơ đồ 5-3-2

    Thủ môn - 5 hậu vệ (hai biên; 3 trung vệ, trong đó có thể có một trung vệ thòng) - ba tiền vệ (hai cánh, một trung tâm) – hai tiền đạo (hai trung phong).



    GK - thủ môn
    LB - hậu vệ trái
    CB – trung vệ dập
    SW - trung vệ thòng
    RB - hậu vệ phải
    LM - tiền vệ trái
    CM - tiền vệ trung tâm
    RM - tiền vệ phải
    CF – trung phong


    Đây là sơ đồ chiến thuật cân bằng giữa phòng ngự và tấn công nhất, và ngày càng được nhiều đội tuyển cũng như các CLB áp dụng (đặc biệt là các đội của Nam Mỹ, hoặc những đội theo trường phái bóng đá kỹ thuật Mỹ Latinh).

    Trong đội hình 5-3-2, hai cầu thủ chạy cánh (hai hậu vệ biên) đóng vai trò rất quan trọng. Họ phải là những cầu thủ có tốc độ cao, khả năng cản phá và tạt tốt, lên xuống liên tục ở hai biên dọc, hỗ trợ phòng ngự và tích cực tham gia tấn công.

    Sức công phá và khả năng phòng thủ của các đội áp dụng sơ đồ này phần lớn phụ thuộc vào phong độ của hai hậu vệ cánh. Bởi ba tiền vệ chơi khá sát nhau, và thường bó vào giữa để gây sức ép ở trung lộ bằng những pha phối hợp bật tường nhanh khi có thời cơ


    Sơ đồ chiến thuật 4-3-3

    Thủ môn - bốn hậu vệ (hai biên, hai trung vệ) - ba tiền vệ (hai cánh, một trung tâm) – ba tiền đạo (hai biên, một trung phong)

    GK - thủ môn
    LB - hậu vệ trái
    CB – trung vệ
    RB - hậu vệ phải
    LM - tiền vệ trái
    CM - tiền vệ trung tâm
    RM - tiền vệ phải
    CF – trung phong
    LW - tiền đạo biên trái
    RW - tiền đạo phải

    Đây là sơ đồ chiến thuật thiên về tấn công nhất. Ba tiền vệ chơi khá gần nhau để tăng khả năng hỗ trợ cho hàng phòng ngự. Trong khi đó, ba tiền đạo trải ngang sân để gây sức ép về phía khung thành đối phương trên diện rộng.

    Rất ít đội khởi đầu trận đấu theo đội hình này. Nhưng nếu buộc phải kiếm tìm bàn thắng bằng mọi giá, các HLV sẽ tung thêm tiền đạo vào sân hoặc đẩy tiền vệ lên cao để hình thành hàng công gồm ba người


    Sơ đồ chiến thuật 4-4-2

    Thủ môn - bốn hậu vệ (hai biên, hai trung vệ) - bốn tiền vệ (hai cánh, hai trung tâm) - hai tiền đạo (hai trung phong).

    GK - thủ môn
    LB - hậu vệ trái
    CB - trung vệ
    RB - hậu vệ phải
    LM - tiền vệ trái
    CM - tiền vệ trung tâm
    RM - tiền vệ phải
    CF - trung phong
    Đây là sơ đồ chiến thuật phổ biến của bóng đá Anh. Để đội hình này vận hành tốt, tuyến tiền vệ phải duy trì cự ly hợp lý, có khả năng dâng cao nhanh hỗ trợ tấn công và rút kịp thời để tăng cường phòng ngự khi bị phản công.

    Trong hai tiền vệ trung tâm, một sẽ thường xuyên dâng cao để hộ công cho hai tiền đạo. Người còn lại đóng vai trò điều nhịp trận đấu và phòng thủ trung lộ (đây còn gọi là tiền vệ trụ).



    Sơ đồ chiến thuật 4-2-4

    - Lịch sử ra đời: Chiến thuật này ra đời chính thức vào năm 1958 với sự đăng quang của Braxin tại cúp thế giới Thụy Điển. Người sáng tạo ra chiến thuật này là HLV Bela Guttman của CLB MTK (Hungary), sau đó ông mang sang Brazil. Về sau người ta tranh cãi về " bản quyền " của sáng tạo này là của người Hungary hay Brazil
    4: gồm 2 hậu về và 2 trung vệ trong khu vực phòng ngự.
    2: gồm 2 tiền vệ kỹ thuật trong khu vực trung tâm
    4: gồm 4 tiền đạo ở hàng tấn công.
    - Tính ưu việt:
    - Sơ đồ 4-2-4 còn có tính ưu việt ở chỗ: 2 tiền đạo phía trong và 2 tièn vệ luôn có thể hoán đổi vị trí cho nhau tuỳ theo tình thế. Tính đồng bộ của sơ đồ này rất cao (trong khi các vị trí ở sơ đồ WM chỉ chơi cá nhân, các cầu thủ ít linh hoạt, chơi phần sân của đồng đội). Tính sáng tạo của các tiền vệ trong sơ đồ 4-2-4 được phát huy tối đa.
    (So với sơ đồ WM thì trong sơ đồ 4-2-4: không ai chuyên gánh vác trọng trách ghi bàn, cá 4 tiền đạo đều xông xáo như nhau)

    Sơ đồ chiến thuật WM (chiến thuật 3-2-2-3):
    Lịch sử ra đời: Chiến thuật này xuất hiện vào năm 1930 tại Anh, Áo và Thụy Sỹ. Đây là lối chơi tiền thân của chiến thuật 4-2-4 phát triển vào giữa 1956. Năm 1925, luật việt vị thay đổi, chỉ cần 2 cầu thủ của đội phòng ngự (chức không pahỉ 3 như trước đó) đứng giữa khung thành và cầu thủ tấn công, thì pha tấn công coi như hợp lệ. Tình huống việt vị giảm hẳn. HLV huyền thoại Hertbert Chapman của CLB Arsenal phát hiện với luật mới này, các pha phản công sẽ trở nên nguy hiểm hơn. Ông đã bỏ ngay sơ đồ 2-3-5 (phổ biến lúc ấy) và khai sinh sơ đồ 3-2-2-3 (WM).

    Cách thay đổi của Chapman: kéo hai tiền đạo về hàng tiền vệ; kéo một tiền vệ về hàng hậu vệ. Thế là từ sơ đồ 2-3-5 thiên về tấn công ồ ạt nhưng phòng thủ kém, Chapman có sơ đồ 3-2-2-3 chặt hơn trong phòng ngự, dễ lấy bóng ở giữa sân hơn và sắc bén trong phản công. Giới bóng đá Anh tự hào về phát minh của Chapman đến nỗi họ gần như không có thay đổi nào suốt 2 thập kỷ sau đó.
    W: là 3 hậu vệ và 2 tiền vệ ở khu vực phòng ngự.
    M: là 2 tiền vệ và 3 tiền đạo ở khu vực tấn công.
    5 cầu thủ ở khu W chỉ lo kèm người thật chặt, đôi khi mù quáng. Với lối chơi này các tiền vệ giữa trước đây là những người được tự do sáng tạo, phát triển tấn công thì giờ đấy chủ yếu trở thành các hậu vệ.

    - Điểm yếu của sơ đồ WM: các vị trí của từng cầu thủ trong đội hình không mang tính linh hoạt; hậu vệ phải luôn kèm tiền đạo trái của đối phương, hậu vệ trái kèm tiền đạo phải, trung vệ kèm trung phong. (So với sơ đồ 4-2-4: không ai chuyên gánh vác trọng trách ghi bàn, cá 4 tiền đạo đều xông xáo như nhau)


    *** Sơ qua về lối chơi dãn biên :
    Dãn biên là lối chơi bóng được tập trung phát triển theo dọc đường biên
    Về nguyên tắc, chơi dãn biên sẽ tạo ra nhiều khoảng trống ở khu trung lộ cho các tiền vệ dứt điểm. Trên thực tế những quả đánh đầu bao giờ cũng làm các thủ môn khó bắt hơn những pha dứt điểm bằng chân bởi nó rất gần và không thể phán đoán được hướng bóng, và khi những đường chuyền càng sát đường biên ngang hơn thì tầm nhìn của các thủ môn càng bị che khuất và khó phán đoán. Nhưng với sự đi lên của chất lượng các cầu thủ hậu vệ biên thì việc đưa được bóng xuống khu vực đó càng ngày càng trở lên khó khăn vì vậy hầu hết những đội bóng lớn hiện nay đều chơi theo phong cách tấn công trung lộ. Đa phần nếu là tấn công biên thì họ đều có xu hướng chọc thẳng vào trung lộ chứ không chơi bám biên theo phong cách cổ điển. Chúng ta hãy thử điểm qua 1 số cái tên chơi ở biên nhưng lại có xu hướng chọc thẳng vào trung lộ hiện nay : Figo, Beck, Robben, Valeron.... Xem ra tới thời điểm này mới chỉ có 1 cái tên khá thành công khi chơi bám biên là C.Ronaldo

  2. #2
    xe_co_nouvo
    Khách
    NHỮNG QUẢ PHẠT

    1. Những loại quả phạt
    Quả phạt gồm: quả phạt trực tiếp và gián tiếp. Khi thực hiện các quả phạt, bóng phải được đặt “chết” tại chỗ, cầu thủ đá phạt không được tiếp tục chạm bong lần thứ 2 nếu bong chưa chạm một cầu thủ khác.

    2. Quả phạt trực tiêp:
    - Bóng đá trực tiếp vào cầu môn đối phương, bàn thắng được công nhận.
    - Nếu bóng đá trực tiếp vào cầu môn đội nhà, bàn thắng không được công nhận và đội đối phương được đá quả phạt góc.

    3. Quả phạt gián tiềp:
    - Ký hiệu: trọng tài xác nhận quả gián tiếp bằng cách giơ thẳng cánh tay lên cao và giữ nguyên tư thế đó cho đến khi quả phạt đã thực hiện, bóng đã chạm cầu thủ khác hoặc ra ngoài các đường giới hạn sân.
    - Bóng vào cầu môn:
    • Bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, đã chạm một cẩu thủ khác.
    • Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương, đội đối phương được hưởng quả đá phạt bóng.
    - Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội nhà, đội đối phương được hưởng quả phạt góc.

    4. Vị trí đá phạt:
    - Quả phạt trong khu phạt đền:
    + Quả phạt trực tiếp hoặc gián tiếp của đội phòng ngự được hưởng:
    • Cẩu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15.
    • Cẩu thủ đối phương phải đứng ngoài khu phạt đền cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
    • Bóng được đá vào cuộc khi đã trực tiếp ra ngoài khu phạt đền.
    • Nếu vị trí phạt ở trong khu cầu môn, bóng có thể đặt ở bất cứ điểm nào trong cầu môn.
    + Quả phạt gián tiếp của đội tấn công được hưởng:
    • Tất cả cầu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 cho đến khi bóng đá vào cuộc, trừ trường hợp họ đã đứng trên đường cầu môn giữa 2 cột dọc.
    • Bóng vào cuộc khi được đá và di chuyển.
    • Nếu điểm phạm lỗi ở trong khu cầu môn, quả phạt gián tiếp được thực hiện trên đường song song với đường cầu môn tại nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
    - Quả phạt ngoài khu phạt đền.
    • Tất cả cầu thủ đối phương đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
    • Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển.
    • Quả phạt được thực hiện tại nơi xảy ra phạm lỗi.

    5. Xử phạt những vi phạm:
    a. Khi thực hiện quả phạt, cầu thủ đối phương không đứng cách xa bóng đủ 9m15:
    • Quả phạt được đá lại.
    b. Khi thực hiện quả phạt trong khu phạt đền của đội mình, nếu bóng chưa trực tiếp vào cuộc (có nghĩa là chưa ra khỏi khu phạt đển):
    • Thực hiện lại quả phạt.
    c. Cầu thủ thực hiện quả phạt không phải thủ môn. Nếu sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ đá phạt tiếp tục chạm bóng lần 2 (không phải bằng tay) trước khi bóng chạm cấu thủ khác:
    • Đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    d. Sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ đá phạt cố tình dung tay chơi bóng trước khi có cầu thủ khác chạm bóng:
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt đền nếu lỗi xảy ra trong khu phạt đền của đối phạm lỗi.
    e. Thủ môn thực hiện quả phạt.
    + Nếu sau khi bóng vào cuộc thủ môn chạm bóng lấn thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi cầu thủ khác chạm vào.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    + Sau khi bóng vào cuộc thủ môn cố tình chơi bóng bằng tay trước khi cầu thủ khác chạm bong:
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp nếu lỗi xảy ra ngoài khu phạt đền của đội phạm lỗi. Quả phạt được thực hiện tại nơi phạm lỗi.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi nếu vi phạm xảy ra trong khu phạt đền của đội phạm lổi. Quả phạt được thực hiện tại nơi pham lỗi.

  3. #3
    Thành viên bằng A1 dungfanta is on a distinguished road dungfanta's Avatar
    Tham gia
    Nov 2008
    Địa chỉ
    Hải Phòng
    Bài gửi
    794
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts
    Sao em không cho vài hình ảnh để phong phú, mà cắt nhỏ ra cho dễ đọc, chứ đọc kiểu này hoa mắt lăm.
    @};- Phong độ là nhất thời - đẳng cấp là mãi mãi @};-

  4. #4
    Thành viên bằng A1 dungfanta is on a distinguished road dungfanta's Avatar
    Tham gia
    Nov 2008
    Địa chỉ
    Hải Phòng
    Bài gửi
    794
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts
    em thêm chiến thuật 7 người đi và chiến thuật cho thủ môn nữa chứ. Trên chỉ toàn chiến thuật 11 người mà mấy khi minh đá được 11 người
    @};- Phong độ là nhất thời - đẳng cấp là mãi mãi @};-

  5. #5
    Thành viên bằng A1 dungfanta is on a distinguished road dungfanta's Avatar
    Tham gia
    Nov 2008
    Địa chỉ
    Hải Phòng
    Bài gửi
    794
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 5 Posts
    em bổ sung thêm luật bóng đã nữa nhé. Cụ thể đá 11 người, 7 người và 5 người (đá bóng trong nhà ấy)
    @};- Phong độ là nhất thời - đẳng cấp là mãi mãi @};-

  6. #6
    xe_co_nouvo
    Khách
    Trích Nguyên văn bởi dungfanta View Post
    Sao em không cho vài hình ảnh để phong phú, mà cắt nhỏ ra cho dễ đọc, chứ đọc kiểu này hoa mắt lăm.
    anh ơi post thế này chứ post ra làm nhiều làm gì
    ok em sẽ sưu tầm thêm cho anh em đây anh:>

  7. #7
    Thành viên thân thiết cat_tien_hoa is an unknown quantity at this point cat_tien_hoa's Avatar
    Tham gia
    Jun 2008
    Địa chỉ
    ha noi
    Bài gửi
    2,307
    Thanks
    2
    Thanked 17 Times in 6 Posts
    a Dũng ơi có chiến thuật nào đội ta đang thua cổ động viên trả vờ làm rơi tiền thế là đội bạn cứ nhìn vào đội ta tha hồ sút ko
    Cell phone: 0976.538.175
    Y!M: matbocau_1989
    Group: Y-Rider Yamaha

  8. #8
    xe_co_nouvo
    Khách
    ***Luật bóng đá 5 Người ***
    *****************************************

    LUẬT 1: SÂN THI ĐẤU

    Những đặc điểm của sân được xác định theo hình vẽ 1 và 2 sau đây:



    1. Kích thước: Sân hình chữ nhật, chiều dọc tối đa 42m và tối thiểu 25m, chiều ngang tối đa 25m và tối thiểu 15m. Trong mọi trường hợp chiều dọc sân phải lớn hơn chiều ngang sân.

    2. Các đường giới hạn: Các đường giới hạn trên sân phải kẻ rõ ràng có bề rộng 8cm. Đường giới hạn theo chiều dọc sân gọi là đường biên dọc và đường giới hạn theo chiều ngang sân gọi là đường biên ngang. Đường giới hạn nửa sân được kẻ theo suốt chiều ngang của sân. Ở chính giữa đường giới hạn này có một điểm rõ ràng gọi là tâm của sân. Lấy điểm này làm tâm, kể một vòng tròn có bán kính 3m.

    3. Khu phạt đền: Từ biên ngang của mỗi phần sân, lấy chân 2 cột dọc cầu môn làm tâm kẻ vào trong sân 1/4 đường tròn có bán kính 6m, nối điểm cuối của 2 cung 1/4 đường tròn được đoạn thẳng dài 3,16m song song và cách đều đường biên ngang (đường cầu môn) 6m. Khu vực trong giới hạn bởi những đường kẻ đó gọi là khu phạt đền. Đường giới hạn này gọi là đường 6m.

    4. Điểm phạt đền thứ nhất: Trên đường 6m và ở giữa đoạn thẳng 3,16m có một điểm rõ ràng. Đó là điểm phạt đền thứ nhất.

    5. Điểm phạt đền thứ hai: Trên đường thẳng góc với biên ngang ở vị trí cách biên ngang 10m có một điểm rõ ràng. Đó là điểm phạt đền thứ hai.

    6. Cung đá phạt góc:

    a. Lấy tâm là giao điểm của biên dọc và biên ngang của mỗi góc sân, kẻ phía trong sân 1/4 đường tròn có bán kính 25cm. Đây là vị trí đặt bóng khi đá quả phạt góc.

    b. Có thể kẻ phía ngoài sân một đoạn thẳng vuông góc với đường biên ngang cách điểm góc sân 5m để xác định vị trí đứng của cầu thủ đội phòng thủ khi đối phương thực hiện quả phạt góc.

    7. Khu vực thay cầu thủ dự bị của mỗi đội bóng: Trên đường biên dọc phía đặt ghế ngồi của cầu thủ dự bị, mỗi đội bóng có khu vực thay đổi cầu thủ dự bị của đội mình. Khu vực này nằm trên đường biên dọc có độ dài 5m, cách đường giới hạn nửa sân 5m, được xác định bởi 2 đoạn thẳng vuông góc với đường biên dọc và có độ dài 80cm (40cm ở phía trong và 40cm ở phía ngoài sân). Khi thay người, các cầu thủ phải ra, vào trong khu vực thay người của đội mình.

    Ghi chú: Trong giờ nghỉ giữa 2 hiệp, khu vực thay người của 2 đội sẽ hoán đổi để việc thay người của đội bóng được thuận lợi.

    8. Khung cầu môn: Ở giữa mỗi đường biên ngang có một khung cầu môn, gồm hai cột dọc vuông góc với mặt sân, cách nhau 3m (tính từ mép trong) được nối với nhau bằng xà ngang song song và cách mặt sân 2m (tính từ mép dưới xà). Bề rộng và bề dày của cột dọc, xà ngang phải cùng kích thước là 8cm. Khung cầu môn có thể tháo rời được, nhưng trước trận đấu phải lắp đặt chặt chẽ, an toàn và gắn cố định xuống mặt sân. Lưới phải có khung đỡ thích hợp phía sau cầu môn và được mắc chắc chắn vào xà ngang, cột dọc và mặt sân (Hình 3).

    9. Mặt sân: Mặt sân phải bằng phẳng và không thô nhám. Khuyến khích nên dùng mặt sân lát gỗ hoặc phủ chất liệu. Không được dùng mặt sân bằng bê tông hoặc tráng nhựa đường. Ghi chú: Lưới cầu môn phải làm bằng sợi vải, sợi đay hoặc dây nilon. Tuy nhiên những sợi nilon không được nhỏ hơn sợi vải, sợi đay.



    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA

    1. Trong những trận đấu quốc tế, kích thước của sân phải là: chiều dọc 38 - 42m và chiều ngang là: 18 - 22m.

    2. Trong trường hợp đường biên ngang có kích thước: 15m đến 16m thì bán kính của cung 1/4 vòng tròn phải là 4m. Nhưng điểm phạt đền thứ nhất vẫn cách xa điểm giữa của đường cầu môn 6m.

    3. Trong những trận đấu giữa các câu lạc bộ có thể dùng mặt sân bằng cỏ tự nhiên, cỏ nhân tạo hoặc bằng đất nhưng không được dùng trong những trận đấu quốc tế.

    LUẬT II: BÓNG

    Bóng phải hình tròn, chất liệu vỏ ngoài của bóng phải bằng da hoặc chất liệu khác được công nhận. Không được sử dụng những chất liệu có thể gây nguy hiểm cho cầu thủ.

    Áp suất của bóng: Từ 400 - 600 gr/cm2 .
    Chu vi quả bóng tối thiểu là 62cm và tối đa là 64cm.
    Trọng lượng quả bóng lúc bắt đầu trận đấu không được nặng hơn 440g và nhẹ hơn 400g.


    Chỉ có trọng tài chính mới có quyền thay đổi bóng trong trận đấu.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA

    1. Trong những trận đấu quốc tế không được dùng loại bóng làm bằng nỉ.

    2. Độ nảy của bóng trong lần thả đầu tiên từ tầm cao 2m: tối đa là 65cm và tối thiểu là 50cm.

    3. Có thể sử dụng các loại bóng khác (như loại bóng số 5 với độ nảy thấp hơn, nặng hơn v.v…) tuy nhiên trong những trận đấu quốc tế nhất thiết phải sử dụng loại bóng đúng theo Luật định.

    4. Đối với những trận đấu do FIFA hoặc các Liên đoàn bóng đá khu vực tổ chức, chỉ có những quả bóng đã qua kiểm nghiệm và đạt được những yêu cầu kỹ thuật tối thiểu theo Luật II mới được sử dụng.

    Bóng chỉ được phép sử dụng thi đấu nếu có một trong những dòng chữ chỉ dẫn sau đây:

    - Biểu tượng chính thức “Được FIFA phê chuẩn” (FIFA APPROVED).

    - Biểu tượng chính thức “Được FIFA kiểm tra” (FIFA INSPECTED).

    - Chứng nhận: “Đạt tiêu chuẩn bóng thi đấu Quốc tế” (cùng các chỉ định về kỹ thuật tương ứng theo yêu cầu của FIFA).

    - Trong những trận đấu khác, quả bón được sử dụng phải đáp ứng những yêu cầu của Luật II.

    Tuy nhiên các Liên đoàn bóng đá quốc gia, hoặc các giải bóng đá 5 người có thể quyết định những yêu cầu chỉ sử dụng bóng mang một trong những chỉ dẫn nêu trên.

    LUẬT III: SỐ LƯỢNG CẦU THỦ

    1. Mỗi trận đấu phải có hai đội, mỗi đội có tối đa là 5 cầu thủ, trong đó coa một thủ môn.

    2. Trong bất kỳ trận đấu nào của một giải chính thức do FIFA, Liên đoàn bóng đá Châu lục hay Liên đoàn bóng đá quốc gia điều hành đều có quyền thay đổi cầu thủ thi đấu bằng cầu thủ dự bị.

    3. Số lượng cầu thủ dự bị tối đa là 7.

    4. Số lần thay đổi cầu thủ dự bị (kể cả thay thế thủ môn dự bị) trong một trận đấu không hạn chế và có thể được tiến hành cả khi bóng trong cuộc hoặc ngoài cuộc. Cầu thủ đã thay ra sân vẫn được quyền vào lại sân thay cầu thủ khác.

    5. Việc thay cầu thủ dự bị phải được thực hiện đúng các quy định sau đây:

    a. Cầu thủ rời sân phải ra khỏi đường biên dọc trong phạm vi “khu vực thay cầu thủ” của đội mình.

    b. Cầu thủ vào sân cũng phải vào từ “khu vực thay cầu thủ” của đội mình và phải đợi cầu thủ bị thay đã hoàn toàn ra ngoài sân.

    c. Một cầu thủ dự bị được tham gia thi đấu hay không là thuộc quyền quyết định của trọng tài.

    d. Việc thay người kết thúc khi cầu thủ bị thay đã ra ngoài sân và cầu thủ dự bị đã vào sân. Lúc này cầu thủ dự bị trở thành chính thức và cầu thủ được thay ra không còn là chính thức nữa.



    6. Cầu thủ nào cũng có thể thay vị trí của thủ môn nhưng phải báo trước cho một trong hai trọng tài biết và việc thay người phải tiến hành vào lúc trận đấu tạm dừng và phải thay trang phục như quy định trong Điều 5 Luật IV (trang phục cầu thủ).

    Cách xử phạt:

    1. Trận đấu vẫn tiếp tục nếu có cầu thủ vi phạm mục 6.

    Tuy nhiên khi bóng ngoài cuộc, ngay lập tức những cầu thủ vi phạm sẽ bị cảnh cáo.

    2. Trong khi thay người, nếu cầu thủ dự bị vào sân trước khi cầu thủ bị thay ra khỏi sân hoàn toàn, trọng tài sẽ dừng trận đấu buộc cầu thủ bị thay nhanh chóng rời sân, cảnh cáo cầu thủ vào sân, cho trận đấu tiếp tục lại bằng quả phạt gián tiếp đội có cầu thủ phạm lỗi tại chỗ bóng dừng. Nếu lúc ấy bóng ở trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m tại điểm gần vị trí bóng dừng nhất.

    3. Trong khi thay cầu thủ dự bị nếu cầu thủ ra sân không đúng phạm vi “khu vực thay cầu thủ” của đội mình, trọng tài dừng trận đấu, cảnh cáo cầu thủ phạm lỗi và cho trận đấu tiếp tục lại bằng quả phạt gián tiếp đội có cầu thủ phạm lỗi tại chỗ bóng dừng. Nếu lúc ấy bóng ở trong khu phạt đền thì quả bóng phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m tại địa điểm gần vị trí bóng dừng nhất.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA

    1. Để bắt đầu trận đấu, mỗi đội phải có 5 cầu thủ.

    2. Trong trường hợp nhiều cầu thủ bị truất quyền thi đấu, nếu một trong hai đội không còn đủ 3 cầu thủ trên sân, trọng tài cho dừng trận đấu và làm báo cáo gửi về Ban tổ chức giải.

    LUẬT IV: TRANG PHỤC CẦU THỦ

    1. Cầu thủ không được mang bất kỳ vật gì gây nguy hiểm cho các cầu thủ khác.

    2. Trang phục cơ bản của một cầu thủ gồm có: áo thun, quần đùi, bít tất dài, bọc ống quyển và giầy. Chỉ loại giầy bằng vải, da mềm hay giầy thể thao đế cao su mềm hoặc chất liệu tương tự mới được sử dụng. Việc mang giầy là bắt buộc.

    3. Áo cầu thủ phải có số và các cầu thủ trong đội phải có số áo khác nhau. Màu áo của cầu thủ 2 đội phải khác mầu nhau và khác mầu với trọng tài.

    4. Thủ môn được quyền mặc quần dài và thủ môn phải mặc áo có màu dễ dàng phân biệt với các cầu thủ khác và trọng tài. 5. Trường hợp cầu thủ đang thi đấu trong sân muốn thay thế thủ môn, cầu thủ đó mặc áo thủ môn đúng số áo mà cầu thủ đó đăng ký.

    Cách xử phạt:

    Bất kỳ cầu thủ nào vi phạm điều luật này sẽ được trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh lại trang phục. Khi trang phục đã chỉnh tề, muốn trở lại sân phải chờ lúc bóng ngoài cuộc và phải được sự đồng ý của một trong hai trọng tài.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA

    Bọc ống quyển phải được bít tất dài che kín hoàn toàn và chất liệu của bọc ống quyền phải có khả năng bảo vệ (như cao su, nhựa, xốp hoặc chất liệu tương tự).

    LUÂT V: TRỌNG TÀI CHÍNH

    Mỗi trận đấu có một trọng tài chính điều khiển. Quyền hạn, nhiệm vụ của trọng tài chính do Luật Bóng đá quy định và có hiệu lực ngay khi trọng tài bước vào sân và kết thúc khi trọng tài rời khỏi sân. Trọng tài có quyền xử phạt tất cả các lỗi vi phạm kể cả trong những lúc trận đấu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định của trọng tài trong trận đấu, kể cả kết quả trận đấu là những quyết định cuối cùng. Nhiệm vụ và quyền hạn của trọng tài chính:

    1. Đảm bảo việc áp dụng Luật Bóng đá.

    2. Không thổi phạt những lỗi có thể tạo lợi thế cho đội phạm lỗi.

    3. Ghi nhận mọi sự cố diễn biến trước, trong và sau trận đấu.

    4. Đảm nhiệm việc theo dõi thời gian thi đấu trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ ba.

    5. Có quyền dừng trận đấu vì bất kỳ vi phạm nào về Luật bóng đá. Tạm dừng hoặc dừng hẳn trận đấu xét thấy cần thiết vì những sự cố can thiệp của khán giả hay những lý do khác. Trong những trường hợp như thế trọng tài phải gửi báo cáo chi tiết kịp thời cho ban tổ chức có thẩm quyền đúng theo quy định của Liên đoàn bóng đá Quốc gia mà trận đấu được tổ chức.

    6. Ngay khi bước vào sân, trọng tài có quyền cảnh cáo đối với bất cứ cầu thủ nào có hành vi khiếm nhã, vi phạm Luật và nếu tái phạm sẽ truất quyền thi đấu cầu thủ đó. Trong những trường hợp như thế, trọng tài phải gửi danh sách cầu thủ phạm lỗi kịp thời về cho ban tổ chức có thẩm quyền đúng theo quy định của Liên đoàn bóng đá Quốc gia.

    7. Trừ cầu thủ và trọng tài thứ 2, không cho phép bất kỳ người nào vào sân khi không được sự cho phép của trọng tài chính.

    8. Dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chấn thương trầm trọng, cho đưa ngay cầu thủ đó ra khỏi sân và lập tức cho trận đấu tiếp tục. Nếu có cầu thủ bị chấn thương nhẹ thì trọng tài đợi bóng ngoài cuộc mới dừng trận đấu. Cầu thủ đó nếu có khả năng đi tới đường biên ngang hoặc biên dọc để chăm sóc thì phải được chăm sóc ngoài sân.

    9. Truất quyền thi đấu bất kỳ cầu thủ nào – theo nhận định của trọng tài - phạm lỗi thô bạo, có hành vi bạo lực hoặc dùng lời lẽ thoá mạ, thô tục.

    10. Ra hiệu cho trận đấu tiếp tục lại sau mỗi lần dừng trận đấu.

    11. Quyết định bóng thi đấu đúng theo quy định của Luật II.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA

    1. Trường hợp trọng tài chính và trọng tài thứ hai phát hiện lỗi cùng một lúc nhưng không thống nhất được đội nào hưởng quả phạt thì quyền quyết định thuộc về trọng tài chính.

    2. Trọng tài chính và trọng tài thứ hai có quyền cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu cầu thủ nhưng trong trường hợp không thống nhất được với nhau, thì quyền quyết định thuộc về trọng tài chính.


    LUẬT VI: TRỌNG TÀI THỨ 2
    Mỗi trận đấu có một trọng tài thứ 2 hoạt động ở phía đối diện với trọng tài chính. Trọng tài thứ 2 cũng có quyền hạn như trọng tài chính trừ những nội dung được đề cập trong mục 4 Luật V. Trọng tài thứ 2 còn có quyền dừng trận đấu vì bất kỳ vi phạm nào về Luật Bóng đá như phần đầu mục 5 Luật V đã ghi. Ngoài ra, trọng tài thứ 2 còn có nhiệm vụ sau đây:

    1. Ở trận đấu không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3, trọng tài thứ 2 chịu trách nhiệm theo dõi thời gian 2 phút phạt dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu.

    2. Theo dõi việc thay đổi cầu thủ có đúng quy định của Luật này hay không.

    3. Theo dõi thời gian hội ý: 1 phút. Trong những trường hợp có sự can thiệp thiếu trách nhiệm của trọng tài thứ 2, trọng tài chính có quyền thay trọng tài thứ 2 đồng thời báo cáo sự việc về Ban tổ chức có thẩm quyền Trọng tài thứ 2 phải trang bị còi.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA
    1. Trong những trận đấu quốc tế nhất thiết phải có trọng tài thứ 2.

    2. Trường hợp tài chính và trọng tài thứ 2 phát hiện lỗi cùng một lúc nhưng không thống nhất được đội nào được đá phạt thì quyền quyết định thuộc về trọng tài chính (xem những quyết định của Luật V).

    3. Trọng tài chính và trọng tài thứ 2 có quyền cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu của một cầu thủ nhưng khi không thống nhất được với nhau thì quyền quyết định thuộc về trọng tài chính (xem những quyết định của Luật V).

    LUẬT VII: THƯ KÝ BẤM GIỜ VÀ TRỌNG TÀI THỨ 3
    Trong những trận đấu quốc tế phải có trọng tài thứ 3 hoạt động cùng với thư ký bấm giờ. Dưới đây là nhiệm vụ của 2 quan chức này.

    A. Nhiệm vụ của thư ký bấm giờ

    1. Đảm bảo thời gian thi đấu theo đúng các điều khoản của Luật VIII. Để làm việc đó phải:

    a. Bấm để đồng hồ chạy khi bắt đầu quả giao bóng, quả đá biên, quả phát bóng, quả phạt góc, quả phạt trực tiếp, những quả đá phạt ở điểm phạt đền 2 quả “thả bóng chạm đất” hoặc sau lần hội ý.

    b. Bấm dừng đồng hồ khi bóng ngoài cuộc.

    2. Theo dõi thời gian hội ý 1 phút và thời gian 2 phút dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu.

    3. Dùng ký hiệu hoặc tiếng còi (khác hẳn với tiếng còi của 2 trọng tài) báo hiệu khi kết thúc hiệp 1, hiệp 2, các hiệp phụ (nếu có) và báo hết thời gian hội ý.

    4. Theo dõi các lần hội ý của mỗi đội, giúp hai trọng tài và hai đội thực hiện các lần hội ý, ra hiệu cho phép hội ý mỗi khi huấn luyện viên yêu cầu.

    5. Theo dõi việc trọng tài xử phạt 5 lỗi “tổng hợp” đầu của mỗi đội trong từng hiệp và kịp thời báo hiệu cho trọng tài khi có đội bóng đã vi phạm đủ 5 lỗi “tổng hợp”.

    6. Theo dõi những lần dừng trận đấu với lý do cụ thể, ghi vào biên bản những cầu thủ ghi bàn, bị cảnh cáo, bị truất quyền thi đấu, những lần hội ý hoặc bất kỳ thông tin gì khác có liên quan đến trận đấu. Trong trường hợp có sự can thiệp thiếu trách nhiệm của thư ký bấm giờ hoặc trọng tài thứ 3, trọng tài chính có quyền bác bỏ và thay thư ký bấm giờ hoặc trọng tài thứ 3 khác, đồng thời báo cáo sự việc lên Ban tổ chức có thẩm quyền. Thư ký bấm giờ sử dụng đồng hồ và những thiết bị cần thiết nhằm thông báo lỗi “tổng hợp” do Liên đoàn bóng đá hoặc Ban tổ chức thi đấu trang bị.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA
    Trong các trận đấu quốc tế nhất thiết phải có thư ký bấm giờ. Trong các trận đấu quốc tế, đồng hồ bấm giờ phải có đủ các chức năng cần thiết (theo dõi được thời gian trận đấu, thời gian 2 phút phạt đối với 4 cầu thủ bị truất quyền thi đấu cùng một lúc). B. Nhiệm vụ của trọng tài thứ 3

    1. Theo dõi hoạt động của thư ký bấm giờ.

    2. Theo dõi và ghi chép 5 lỗi “tổng hợp” đầu của từng đội bóng trong mỗi hiệp và báo hiệu ngay cho trọng tài sau thời điểm đội bóng nào đã bị phạt đủ 5 lỗi “tổng hợp”.

    3. Ghi chép những lần tạm dừng và nguyên nhân tạm dừng trận đấu, những cầu thủ ghi bàn thắng, cầu thủ bị phạt thẻ vàng, thẻ đỏ và cung cấp bất kỳ những thông tin nào có liên quan đến trận đấu. Trường hợp có trọng tài bị chấn thương không tiếp tục làm nhiệm vụ được nữa, trọng tài thứ 3 có thể sẽ là người thay thế với nhiệm vụ trọng tài chính hoặc trọng tài thứ 2.

    LUẬT VIII: THỜI GIAN THI ĐẤU
    1. Một trận đấu gồm 2 hiệp, mỗi hiệp 20 phút.

    2. Việc theo dõi từng trận đấu do thư ký bấm giờ chịu trách nhiệm như quy định ở Luật VII.

    3. Ngay trước khi kết thúc mỗi hiệp đấu, một đội bóng được hưởng quả phạt đền hiệp đấu đó phải được kéo dài đủ để thực hiện xong quả phạt đó.

    4. Trong mỗi hiệp đấu, các đội được quyền hội ý một lần với thời gian 1 phút nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

    a. Huấn luyện viên của đội mới được quyền yêu cầu thời gian 1 phút hội ý qua thư ký bấm giờ trong bất cứ thời điểm nào của hiệp đấu.

    b. Thư ký bấm giờ chỉ cho phép đội bóng hội ý khi đội bóng khống chế bóng (được quyền đá biên, đá phạt…).

    c. Khi hội ý, các cầu thủ phải tập trung ở trong sân và không ai bên ngoài được vào sân. Nếu muốn nhắc nhở điều gì với đội, huấn luyện viên phải thực hiện ở đường biên dọc nơi hàng ghế cầu thủ dự bị.

    d. Nếu trong hiệp 1, đội nào không yêu cầu hội ý, thì sang hiệp 2 cũng chỉ được quyền hội ý 1 lần.

    5. Thời gian nghỉ giữa 2 hiệp không quá 15 phút.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI
    1. Trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3, trọng tài chính phải đảm nhiệm thêm việc theo dõi thời gian trận đấu.

    2. Trong trường hợp đó, huấn luyện viên yêu cầu hội ý phải qua trọng tài thứ 2.

    3. Nếu điều lệ giải có quy định đấu thêm 2 hiệp phụ sau khi kết thúc 2 hiệp chính vẫn hoà, thì trong các hiệp phụ không có lần hội ý.

    LUẬT IX: BẮT ĐẦU VÀ BẮT ĐẦU LẠI TRẬN ĐẤU
    A. Bắt đầu trận đấu

    1. Trước khi trận đấu bắt đầu, việc chọn sân hoặc đá quả giao bóng phải được xác định bằng cách tung đồng tiền. Đội được quyền ưu tiên sẽ chọn sân hoặc đá quả giao bóng trước. Sau khi trọng tài chính thổi còi để trận đấu bắt đầu, cầu thủ đội được giao bóng đá quả bóng ở điểm trung tâm sân về phía sân đối phương. Các cầu thủ phải đứng trên nửa phần sân của đội mình, các cầu thủ đội không được giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất là 3m. Bóng vào cuộc sau khi được đá và di chuyển. Cầu thủ đá quả giao bóng không được chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác.

    2. Sau mỗi bàn thắng, trận đấu được tiếp tục bằng quả giao bóng theo quy định nói trên. Đội vừa bị thua được quyền giao bóng.

    3. Bắt đầu hiệp2, hai đội đổi sân và đội không được giao bóng ở hiệp 1 được quyền giao bóng ở hiệp2

    Cách xử phạt:

    1. Khi giao bóng không thực hiện đúng những quy định 1, 2 và 3 sẽ phải giao bóng lại. Trường hợp cầu thủ giao bóng lại đá bóng lần nữa trước khi bóng chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác, thì đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại điểm phạm lỗi. Nếu điểm phạm lỗi nằm trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp được thực hiện trên vạch 6m, gần nơi phạm lỗi nhất. Bóng đá từ quả giao bóng trực tiếp vào cầu môn bàn thắng được công nhận.

    B. Bắt đầu lại trận đấu

    1. Sau lúc tạm dừng trận đấu vì bất kỳ lý do gì không ghi trong Luật và lúc đó bóng chưa vượt khỏi các đường giới hạn, thì trận đấu được tiếp tục bằng quả “thả bóng chạm đất” do một trong hai trọng tài thực hiện tại điểm bóng dừng. Nếu lúc đó, bóng dừng ở khu phạt đền, thì quả “thả bóng chạm đât” sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần vị trí bóng dừng nhất.

    2. Bóng được tính là trong cuộc sau khi chạm mặt sân. Tuy nhiên bóng được thả xuống nếu vượt ra ngoài biên dọc hoặc biên ngang trước khi cầu thủ chạm bóng, trọng tài cho thực hiện lại. Không cầu thủ nào được đá bóng khi bóng chưa chạm mặt sân. Nếu vi phạm trọng tài sẽ thực hiện lại quả “thả bóng chạm đất”.

    LUẬT X: BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC
    Bóng ngoài cuộc là:

    1. Khi bóng đã vượt hẳn khỏi biên dọc hoặc biên ngang dù ở trên sân hay trong không gian.

    2. Sau tiếng còi dừng của trọng tài. Ngoài hai trường hợp trên, bóng được kể là trong cuộc từ lúc bắt đầu trận đấu cho đến khi kết thúc trận đấu, kể cả các trường hợp sau: Bóng bật từ cột dọc, xà ngang của khung cầu môn vào trong sân. Bóng bật vào sân từ trọng tài chính hoặc trọng tài thứ 2 đứng trong sân. Khi trọng tài chưa thổi còi ngưng trận đấu sau một hành vi được coi là phạm Luật.

    QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓN ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA
    1. Bề rộng của vạch giới hạn được tính nằm trong diện tích của khu vực đó. Do đó bề rộng của các biên dọc, biên ngang thuộc vào diện tích của sân.

    2. Khi trận đấu diễn ra trong sân có mái che, nếu bóng chạm trần, trận đấu tạm dừng và sẽ được tiếp tục như sau:

    Quyết định 2: Đội không có cầu thủ đá bóng chạm trần sẽ được thực hiện quả đá biên tại giao điểm giữa đường biên dọc với đường “tưởng tượng” song song với biên ngang, đi qua điểm đối diện (trên mặt sân) với điểm bóng chạm trần.

    LUẬT XI: BÀN THẮNG HỢP LỆ
    Bàn thắng được công nhận khi quả bóng đã hoàn toàn vượt khỏi biên ngang giữa hai cột và dưới xà ngang của cầu môn, trừ:

    - Những trường hợp đặc biệt do Luật quy định.

    - Quả bóng do cầu thủ dùng tay hoặc cánh tay để ném, ôm hoặc đấm vào cầu môn.

    Đội ghi điểm bàn thắng hơn là đội thắng.

    Nếu 2 đội không ghi được bàn thắng hoặc có số bàn thắng bằng nhau thì trận đấu được coi là hoà.

    LUẬT XII: LỖI VÀ HÀNH VI THIẾU ĐẠO ĐỨC
    A. Trực tiếp

    Cầu thủ vi phạm một trong 6 lỗi sau đây mà theo nhận định của trọng tài tuy không cố tình nhưng đã dùng sức mạnh quá mức cần thiết hoặc do bất cẩn:

    1. Đá hoặc tìm cách đá đối phương;
    2. Ngáng hoặc tìm cách ngáng chân đối phương.
    3. Nhẩy vào người đối phương;
    4. Chèn đối phương bằng vai;
    5. Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương;
    6. Xô đẩy đối phương; Và cầu thủ vi phạm một trong 4 lỗi sau đây:
    7. Lôi kéo đối phương;
    8. Nhổ nước bọt vào đối phương;
    9. Tìm cách xoạc bóng khi bóng trong hoặc ngoài tầm khống chế của đối phương, trừ thủ môn trong khu phạt đền của đội mình nhưng động tác không được dùng sức mạnh quá cần thiết hoặc bất cẩn thô bạo.


    10. Cố tình dùng tay chơi bóng như: ôm bóng, đấm bóng, ném bóng bằng tay hoặc cánh tay (không áp dụng quy định này cho thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình). Sẽ bị phạt quả phạt trực tiếp do đội đối phương thực hiện tại nơi phạm lỗi. Nếu cầu thủ cố tình vi phạm 1 trong 10 lỗi trên trong khu phạt đền của đội mình, sẽ bị phạt quả phạt đền 6m bất kể bóng ở vị trí nào và trong cuộc. Chỉ những lỗi phạt trực tiếp mới được tính là lỗi “tổng hợp”.

    B. Gián tiếp

    • Thủ môn phạm một trong những lỗi sau đây sẽ bị phạt quả gián tiếp:

    1. Nếu sau khi phát bóng, lại nhận bóng trở lại từ cầu thủ đồng đội chuyển về mà bóng chưa vượt qua vạch giữa sân hoặc chưa chạm hoặc đá bởi cầu thủ đối phương.

    2. Nếu dùng tay chạm hoặc bắt bóng từ quả chuyển về của đồng đội.

    3. Nếu dùng tay chạm hoặc bắt bóng từ quả đá biên về của đồng đội.

    4. Nếu khống chế bóng bằng tay hoặc bằng chân ở bất cứ điểm nào thuộc phần sau đội mình lâu quá 4 giây.

    • Hoặc theo nhận định của trọng tài, cầu thủ vi phạm một trong những lỗi sau đây, sẽ bị phạt quả gián tiếp.

    1. Có lối chơi nguy hiểm

    2. Không tranh cướp bóng mà chỉ cố tình ngăn cản đối phương như chạy giữa đối phương và bóng hoặc dùng thân người cản đường di chuyển của đối phương.

    3. Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.

    4. Phạm một trong bất kỳ lỗi nào khác không được đề cập trong luật XII, mà trận đấu phải dừng lại để cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu của cầu thủ. Quả phạt gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại vị trí phạm lỗi. Nếu vị trí phạm lỗi xảy ra trong khu phạt đền, quả phạt gián tiếp được thực hiện tại điểm trên đường 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.

    • Cầu thủ bị cảnh cáo (thẻ vàng) nếu:

    1. Có hành vi khiếm nhã (phi thể thao).

    2. Dùng lời lẽ hoặc hành động phản đối quyết định của trọng tài.

    3. Vi phạm luật nhiều lần.

    4. Trì hoãn đưa bóng vào cuộc.

    5. Không đứng đúng cự ly xa điểm phạt trong những quả phạt góc, đá biên, đá phạt, ném bóng vào cuộc.

    6. Ra vào sân không có phép của trọng tài hoặc vi phạm quy định thay thế cầu thủ dự bị.

    7. Tự ý rời sân không có phép của trọng tài. Nếu phạm một trong những lỗi trên, cầu thủ bị cảnh cáo và bị phạt quả gián tiếp tại nơi phạm lỗi, trừ trường hợp vi phạm luật trầm trọng hơn. Nếu phạm lỗi trong khu phạt đền của đội mình, quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.

    • Cầu thủ sẽ bị truất quyền thi đấu (thẻ đỏ) nếu theo nhận định của trọng tài cầu thủ:

    1. Có hành vi thô bạo.

    2. Có lối chơi bạo lực.

    3. Nhổ nước bọt vào đối phương hoặc bất kỳ ai.

    4. Ngăn cản cơ hội ghi bàn rõ rệt bằng tay (không áp dụng với thủ môn trong khu phạt đền của đội mình).

    5. Vi phạm lỗi thô bạo ngăn cản cơ hội ghi bàn rõ rệt.

    6. Dùng lời lẽ thô tục hoặc xúc phạm.

    7. Bị cảnh cáo lần thứ 2 trong một trận đấu. Nếu trọng tài dừng trận đấu để truất quyền thi đấu cầu thủ phạm một trong 2 lỗi (6) hay (7), và không vi phạm lỗi nào khác theo quy định của luật, thì trận đấu tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp do đối phương thực hiện tại chỗ phạm lỗi. Tuy nhiên nếu phạm lỗi trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần nơi phạm lỗi nhất.

    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA
    1. Theo nhận định của trọng tài, nếu một cầu thủ đang di chuyển về hướng cầu môn đối phương với cơ hội ghi bàn rõ ràng mà bị đối phương cố tình truy cản trái phép (có nghĩa là hành vi phạm lỗi phải phạt quả trực tiếp) thì sẽ bị truất quyền thi đấu vì lối chơi thô bạo đó.

    2. Theo nhận định của trọng tài, nếu một cầu thủ không phải là thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình dùng tay ngăn cản bàn thắng hoặc một cơ hội ghi bàn rõ ràng của đối phương sẽ bị truất quyền thi đấu vì lối chơi thô bạo đó.

    3. Cầu thủ bị truất quyền thi đấu không được vào lại sân và cũng không được ngồi ở dãy ghế dành cho cầu thủ dự bị. Đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu sẽ phải thi đấu thiếu người trong 2 phút. Thời gian 2 phút phạt có thể rút ngắn khi trận đấu có bàn thắng. Điều này được quy định như sau:

    a. Trường hợp đội có 5 cầu thủ thi đấu với đội 4 cầu thủ thì khi đội có số đông cầu thủ hơn ghi bàn thắng, đội chỉ có 4 cầu thủ sẽ được bổ sung đủ số lượng.

    b. Trường hợp cả hai đội đều thi đấu với 4 cầu thủ, khi có bàn thắng, cả hai đội đều giữ nguyên số lượng cầu thủ.

    c. Trường hợp đội 5 hoặc 4 cầu thủ thi đấu với đội 3 cầu thủ, khi đội có số lượng cầu thủ đông hơn ghi bàn thắng, đội 3 cầu thủ chỉ được bổ sung một cầu thủ mà thôi.

    d. Trường hợp cả hai đội đều thi đấu với 3 cầu thủ khi có bàn thắng, cả hai đội đều giữ nguyên số lượng cầu thủ.

    e. Trường hợp đội có số cầu thủ ít hơn ghi bàn thắng thì không được bổ sung đủ số lượng.

    Việc theo dõi 2 phút phạt dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu là nhiệm vụ của thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3 (nếu có). Trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3 thì trách nhiệm đó thuộc về trọng tài thứ 2. Cầu thủ vào sân để thay thế cầu thủ bị truất quyền thi đấu phải được sự đồng ý của trọng tài chính và chờ khi bóng ngoài cuộc.


    LUẬT XIII: NHỮNG QUẢ PHẠT
    Những quả phạt được phân làm 2 loại: “Trực tiếp” (bàn thắng được công nhận nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương) và “Gián tiếp” (bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, bóng đã chạm hoặc được đá bởi một cầu thủ khác).

    Khi một cầu thủ thực hiện quả phạt, các cầu thủ đối phương phải đứng cách bóng tối thiểu là 5m cho đến khi bóng đá rời chân và di chuyển. Trường hợp cầu thủ đối phương xông vào hoặc đứng không đủ cự ly 5m trước khi quả bóng được đá đi, trọng tài phải cho thực hiện lại (nếu bóng đã được đá đi) hoặc dừng việc thực hiện quả phạt cho tới khi mọi người thực hiện đúng quy định của Luật.

    Bóng phải để “chết” khi thực hiện quả phạt và cầu thủ vừa đá phạt không được chạm bóng lần thứ 2 khi bóng chưa chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác. Cách xử phạt:

    1. Nếu cầu thủ vừa thực hiện quả phạt, ngay sau khi bóng vào cuộc, lại đá tiếp lần thứ 2 trước khi bóng được chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác, sẽ bị phạt quả gián tiếp do đối phương thực hiện nơi vi phạm lỗi. Trường hợp lỗi vi phạm xảy ra trong khu phạt đền thì quả phạt sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.

    2. Nếu đội được hưởng quả phạt thực hiện lâu quá 4 giây thì trọng tài sẽ cho đối phương được đá quả phạt gián tiếp đó.

    3. Ký hiệu của trọng tài trong các quả phạt.

    a. Phạt trực tiếp: Sau khi thổi phạt quả trực tiếp, trọng tài một tay chỉ hướng phạt còn tay kia chỉ xuống đất ra hiệu lỗi thứ mấy với trọng tài thứ 3 hoặc thư ký bấm giờ để thông báo số lỗi được tính vào lỗi tổng hợp.

    b. Khi trọng tài phạt quả gián tiếp phải có ký hiệu một tay giơ cao khỏi đầu, lòng bàn tay hướng về phía trước và giữ nguyên như thế cho đến khi bóng được đá đi đã chạm hoặc được đá bởi một cầu thủ khác hay ra ngoài cuộc.

    4. Từ quả phạt trực tiếp, bóng phải vào cầu môn đội đối phương bàn thắng mới được công nhận.

    LUẬT XIV: LỖI “TỔNG HỢP”
    1. Chỉ những lỗi phạt trực tiếp được ghi trong luật XII mới được tính vào số lỗi “tổng hợp”. Những quả phạt lỗi “tổng hợp” trực tiếp vào cầu môn được công nhận bàn thắng.

    2. Năm lỗi “tổng hợp” đầu của mỗi đội trong mỗi hiệp phải được ghi vào biên bản khi kết thúc trận đấu.

    3. Trong 5 lỗi “tổng hợp” đầu của mỗi đội ở mỗi hiệp khi thực hiện quả phạt, đối phương được quyền làm “hàng rào” nhưng phải đứng cách xa bóng tối thiểu 5m.

    4. Nhưng bắt đầu từ lỗi “tổng hợp” thứ 6 trở đi, đối phương không được quyền làm “hàng rào” khi thực hiện quả phạt.

    a. Cầu thủ đá phạt phải được báo với trọng tài.

    b. Trừ thủ môn đối phương và cầu thủ thực hiện quả phạt, các cầu thủ khác phải ở trong sân nhưng phía sau vạch “tưởng tượng” ngang hàng với bóng, song song với biên ngang và ngoài khi phạt đền.

    c. Thủ môn phải ở lại trong khu phạt đền, và cách xa bóng tối thiểu 5m.

    d. Các cầu thủ đội đối phương phải đứng cách xa bóng 5m và không được cản trở cầu thủ thực hiện quả phạt. Không một cầu thủ nào được vượt qua vạch “tưởng tượng” trước khi quả bóng được đá đi rời chân và di chuyển.

    A. Quy định tiến hành quả phạt lỗi “tổng hợp”

    1. Cầu thủ thực hiện quả phạt phải đá bóng với ý đồ ghi bàn chứ không được phép chuyển bóng cho cầu thủ khác.

    2. Khi quả phạt đang thực hiện, không một cầu thủ nào được chạm bóng cho tới khi bóng **ng thủ môn hoặc bật ra từ cột dọc, xà ngang hay ra ngoài các đường giới hạn của sân.

    3. Những quả phạt này không được thực hiện ở cự ly cách đường biên ngang dưới 6m, điểm đặt bóng đá phạt phải dời lên vị trí tương ứng với điểm phạm lỗi và cách đường biên ngang 6m. Khi có lỗi phạt gián tiếp trong khu phạt đền, điểm đặt bóng đá phạt phải ở trên đường 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.

    4. Khi cầu thủ phạm lỗi “tổng hợp” thứ 6 trên phần sân đối phương hoặc trên phần sân của đội mình được giới hạn bởi đường giữa sân với đường “tưởng tượng” ngang qua chấm phạt đền thứ 2 và song song với đường biên ngang, đội đối phương sẽ được thực hiện quả phạt ngay tại chấm phạt đền thứ 2 của đội phạm lỗi. Chấm phạt đền thứ 2 nói rõ trong Luật I mục 5. Quả phạt phải được thực hiện theo những điều khoản quy định trong mục A.

    5. Khi cầu thủ phạm lỗi “tổng hợp” thứ 6 trên phần sân đội nhà được giới hạn giữa đường song song với biên ngang đi qua chấm phạt đền thứ 2 và đường biên ngang cuối sân. Đội tấn công được quyền tự chọn một trong 2 vị trí đá phạt là điểm phạm lỗi hay điểm phạt đền thứ 2.

    6. Nếu trận đấu phải đá thêm 2 hiệp phụ, thì những lỗi tổng hợp của hiệp 2 vẫn còn giá trị để tính lỗi tổng hợp trong 2 hiệp phụ.

    B. Cách xử phạt

    Bất kỳ vi phạm nào với quy định của Luật rơi vào:

    1. Đội bị phạt: Quả phạt được thực hiện lại nếu không ghi được bàn thắng. Ngược lại nếu ghi được bàn thắng thì bàn thắng được công nhận.

    2. Đội được phạt Quả phạt được thực hiện lại nếu ghi được bàn thắng. Nếu không ghi được bàn thắng thì không thực hiện lại quả phạt.

    3. Cầu thủ thực hiện quả phạt Sau khi bóng vào cuộc lại chạm bóng lần thứ 2, đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi. Nếu phạm lỗi trong khu phạt đền, quả phạt gián tiếp được thực hiện trên đường 6m ở vị trí gần nơi phạm lỗi nhất.

    LUẬT XV: PHẠT ĐỀN
    Đội bóng có cầu thủ phạm một trong những lỗi phạt trực tiếp nếu vị trí phạm lỗi trong khi phạt đền của đội mình lúc bóng đang trong cuộc

    - sẽ bị phạt quả phạt đền. Từ quả phạt đền, bóng được đá trực tiếp vào cầu môn đội phạm lỗi, bàn thắng được công nhận. Khi có quả phạt đền ở phút cuối của mỗi hiệp chính, hiệp phụ, phải bù thêm thời gian để thực hiện xong quả phạt đền.

    1. Vị trí đặt bóng và cầu thủ:

    a. Bóng được đặt tại điểm phạt đền thứ nhất.

    b. Cầu thủ đá quả phạt đền phải được thông báo rõ ràng.

    c. Thủ môn đội bị phạt: Đứng trên đường cầu môn giữa 2 cột dọc, mặt đối diện với cầu thủ đá phạt cho đến khi bóng được đá vào cuộc.

    d. Các cầu thủ khác:
    - Đứng trong sân, ngoài khu phạt đền.
    - Phía sau điểm phạt đền.
    - Cách xa điểm phạt tối thiểu 5m.


    2. Trình tự thực hiện quả phạt:

    - Cầu thủ đá phạt phải đá bóng về phía trước.
    - Không được chạm bóng tiếp lần thứ 2 khi chưa có cầu thủ nào chạm bóng.
    - Bóng vào cuộc sau khi được đá và di chuyển về phía trước.


    • Khi quả phạt đền được thực hiện trong 2 hiệp chính, hiệp phụ, trong thời gian bù thêm để thực hiện xong quả phạt đền hoặc khi thực hiện lại quả phạt đền – Bàn thắng được công nhận nếu trước khi vượt qua đường cầu môn giữa 2 cột dọc và dưới xà ngang, bóng có chạm các cột dọc, xà ngang hoặc người thủ môn.

    3. Những vi phạm và xử phạt:

    a. Cầu thủ đội phạm lỗi vi phạm:
    - Thực hiện lại quả phạt nếu bóng không vào cầu môn.
    - Công nhận bàn thắng nếu bóng vào cầu môn.


    b. Đồng đội của cầu thủ đá phạt phạm lỗi:
    - Bóng vào cầu môn, đá lại quả phạt.
    - Bóng không vào cầu môn, không đá lại quả phạt.


    c. Cầu thủ đá phạt phạm lỗi sau khi bóng được đá vào cuộc: Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp.

    LUẬT XVI: ĐÁ BIÊN
    Khi quả bóng hoàn toàn vượt khỏi đường biên dọc dù ở mặt sân hoặc ở trong không gian, cầu thủ của đội không chạm bóng cuối cùng được đá biên về bất kỳ hướng nào tại vị trí bóng vượt khỏi đường biên dọc. Lúc thực hiện quả đá biên, cầu thủ có thể giẫm một phần chân lên đường biên dọc hoặc đứng hẳn ngoài sân. Bóng phải đặt “chết” trên đường biên dọc và được coi là trong cuộc ngay khi được đá rời chân và di chuyển. Cầu thủ đá biên không được chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm hoặc được đá bởi cầu thủ khác. Các cầu thủ đối phương phải đứng cách bóng tối thiểu 5m. Bàn thắng không được công nhận từ quả đá biên trực tiếp vào cầu môn.

    Cách xử phạt:

    1. Nếu đá biên không đúng quy định, quyền đá biên được chuyển cho đội đối phương.

    2. Nếu đá biên không đúng vị trí bóng ra biên dọc, quyền đá biên được chuyển cho đội đối phương.

    3. Nếu cầu thủ đã đặt bóng vào vị trí mà sau 4 giây không thực hiện quả đá biên, quyền đá biên sẽ được chuyển cho đội đối phương.

    4. Nếu cầu thủ đá biên chạm bóng lần thứ 2 trước khi bóng chạm hoặc được đá bởi cầu thủ khác thì sẽ bị phạt quả gián tiếp tại nơi phạm lỗi. Trường hợp phạm lỗi trong khu phạt đền, quả phạt đền sẽ được đặt trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.

    LUẬT XVII: QUẢ NÉM PHÁT BÓNG
    Khi quả bóng hoàn toàn vượt ra khỏi đường biên ngang dù ở mặt sân hay ở trên không, phía ngoài khung cầu môn mà người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội tấn công, thủ môn đội phòng thủ được thực hiện quả ném phát bóng.

    Thủ môn phải dùng tay đưa vào cuộc từ trong khu phạt đền và bóng được coi là trong cuộc ngay sau khi ra khỏi khu phạt đền. Thủ môn ném phát bóng bằng tay có thể đưa bóng trực tiếp sang sân đối phương. Các cầu thủ đội đối phương phải đứng ngoài khu phạt đền khi thủ môn ném phát bóng. Cách xử phạt:

    1. Bóng từ quả ném phát bóng hợp lệ trực tiếp vào cầu môn đối phương – bàn thắng không được công nhận.

    2. Nếu quả phát bóng của thủ môn chạm hoặc được đá bởi đồng đội hay đối phương trong khu vực phạt đền của thủ môn đó thì phải phát bóng lại.

    3. Nếu thủ môn sau khi phát bóng ra ngoài khu vực phạt đền lại chạm bóng lần thứ 2 trước khi một cầu thủ khác chạm hoặc đá, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại chỗ phạm lỗi.

    4. Nếu sau khi phát bóng, thủ môn nhận lại quả bóng từ đồng đội chuyển về bằng tay hoặc khống chế bằng chân. Trọng tài cho đối phương hưởng quả phạt gián tiếp. Quả phạt sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.

    LUẬT XVIII: QUẢ PHẠT GÓC
    Khi bóng hoàn toàn vượt ra đường biên ngang phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt sân hoặc ở trên không mà đội phòng thủ là người chạm cuối cùng - cầu thủ đội tấn công sẽ được hưởng quả phạt góc. Cầu thủ thực hiện quả phạt góc phải đặt bóng trong cung đá phạt góc.

    Các cầu thủ đội đối phương phải đứng cách bóng 5m (ngang vạch quy định) cho đến khi bóng được đá vào cuộc. Bàn thắng được công nhận nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội đối phương. Cách xử phạt:

    1. Nếu cầu thủ thực hiện quả phạt góc chạm bóng lần thứ 2 trước khi bóng chạm một cầu thủ khác, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại chỗ phạm lỗi.

    2. Nếu quả phạt góc không thực hiện đúng quy định, sẽ phải đá lại.

    3. Cầu thủ đã đặt bóng vào đúng vị trí, nếu quá 4 giây mà không thực hiện quả phạt góc, trọng tài cho đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại điểm trong cung đá phạt góc.



  9. #9
    xe_co_nouvo
    Khách
    NHỮNG HƯỚNG DẪN VỀ ĐÁ LUÂN LƯU 6M

    Thi đá luân lưu 6m nhằm xác định đội thắng trong những trận đấu loại trực tiếp có kết thúc hoà.

    THỦ TỤC TIẾN HÀNH

    1. Trọng tài chọn cầu môn để thi đá luân lưu.

    2. Trọng tài tung đồng tiền, đội được thăm đá quả đầu tiên.

    3. Trọng tài phải ghi chép kết quả qua mỗi lần đá.

    4. Nguyên tắc mỗi đội được đá 5 quả với quy định:

    a. Hai đội cử từng cầu thủ đá luân lưu xen kẽ nhau.

    b. Đội trưởng phải thông báo với trọng tài danh sách 5 cầu thủ sẽ thi đá, được chọn trong danh sách 12 cầu thủ đã đăng ký với trọng tài trước trận đấu.

    c. Khi trận đấu kết thúc, mỗi đội có số cầu thủ hợp lệ đông hơn đối phương, đội trưởng phải thông báo với trọng tài tên và số áo của cầu thủ không thi đá nhằm đảm bảo trước khi đá, hai đội có số lượng cầu thủ bằng nhau.

    d. Trước khi hai đội đá đủ 5 quả, một đội ghi được số bàn thắng nhiều hơn số bàn thắng mà đội kia có thể ghi được nếu đá đủ 5 quả, thì trọng tài cho dừng lại.

    e. Nếu sau khi đá đủ 5 quả, hai đội có số bàn thắng bằng nhau hoặc không ghi được bàn thắng nào sẽ tiếp tục đá đối xứng từng quả một cho tới khi hai đội có số lượng quả sút phạt bằng nhau mà có đội ghi được nhiều bàn thắng hơn.

    g. Những cầu thủ nào chưa đá 5 quả đầu sẽ được đá những quả đối xứng tiếp theo. Sau khi mỗi đội đã đá hết số cầu thủ còn lại, vẫn hoà thì các cầu thủ đá đợt đầu đá tiếp tục nhưng vẫn theo phương thức đá đối xứng từng quả một.

    h. Cầu thủ bị truất quyền thi đấu không được tham gia thi đá luân lưu 6m.

    i. Trong suốt quá trình thi đá luân lưu, mọi cầu thủ trong sân đều có quyền thay thế thủ môn.

    k. Chỉ có trọng tài và cầu thủ hợp lệ của 2 đội bóng ở lại trong sân trong khi đá luân lưu.

    l. Trừ cầu thủ đá phạt và thủ môn 2 đội, tất cả cầu thủ phải ở lại trên nửa phần sân đối diện với phần sân đang thi đá. Trọng tài thứ 2 có trách nhiệm quản lý những cầu thủ đó.

    m. Thủ môn cùng đội với cầu thủ thực hiện quả phạt phải đứng trong sân và không gây cản trở đến tiến trình thi đá luân lưu.

  10. #10
    xe_co_nouvo
    Khách
    *** Luật bóng đá cho 11 người ***

    *******************************


    LUẬT I

    SÂN THI ĐẤU
    1. Kích thước:
    Sân thi đấu hình chữ nhật có chiều dài sân lớn hơn chiều ngang.
    Chiều dài: Tối thiểu: Tối đa: 90m 120m
    Chiều rộng: Tối thiểu: Tối đa: 45m 90m
    Sân thi đấu quốc tế:
    Chiều dài: Tối thiểu: Tối đa: 100m 110m
    Chiều rộng: Tối thiểu: Tối đa: 64m 75m
    2. Các đường giới hạn:
    Chu vi của sân được xác định bởi các đường giới hạn:
    - Hai đường giới hạn dài hơn theo chiều dọc sân gọi là đường biên dọc.
    - Hai đường giới hạn ngắn hơn theo chiều ngang sân gọi là đường biên ngang.
    - Các đường giới hạn đều không rộng hơn 12cm.
    - Đường giới hạn nửa sân kẻ suốt theo chiều ngang và chia sân thành 2 phần bằng nhau.
    - Ở giữa đường nửa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân.
    Lấy điểm dó làm tâm kẻ đường tròn bán kính 9m15, đó là đường tròn giữa sân.
    3. Khu cầu môn:
    Từ điểm cách cột dọc 5m50 trên đường biên ngang của mỗi phần sân, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song, vuông góc với biên ngang và có độ dài 5m50, kẻ đường nối liền hai đầu đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng và đường biên ngang gọi là khu cầu môn.
    4. Khu phạt đền:
    Từ điểm cách cột dọc 16m50 trên đường biên ngang của mỗi phần sân, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song vuông góc với biên ngang và có độ dài 16m50, kẻ đường nối liền 2 đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng đó và đường biên ngangn gọi là khu phạt đền. Trong mỗi khu phạt đền có một điểm với đường kính 22cm được đánh dấu rõ ràng, cách điểm giữa đường biên ngang 11m - Đó là điểm phạt đền. Từ điểm phạt đền làm tâm kẻ một cung tròn ở ngoài khu phạt đền có bán kính 9m15, để xác định vị trí đứng của những cầu thủ khi thực hiện quả phạt 11m.
    5. Cột cờ góc:
    Ở mỗi góc sân được cắm cột cờ góc không nhọn đầu và cao tối thiểu 1m50. Phía ngoài đường giữa sân cách 2 đường biên dọc tối thiểu 1m có thể đặt 2 cột cờ.
    6. Cung phạt góc:
    Từ tâm là điểm cắm các cột cờ góc, kẻ vào trong sân 1/4 cung tròn bán kính 1m. Đây là vị trí đặt bóng để đá quả phạt góc.
    7. Cầu môn:
    Ở chính giữa mỗi đường biên ngang được đặt một khung cầu môn. Cầu môn được cấu tạo bởi 2 cột dọc vuông góc với đường biên ngang và cách đều 2 cột cờ góc, có khoảng cách 7m32, (tính từ mép trong của cột) được nối liền với nhau bằng một xà ngang song song và cách mặt sân 2m44 (tính từ mép dưới xà ngang).

    Cột dọc và xà ngang phải có cùng kích thước và không rộng quá 12cm. Lưới phải được mắc vào cột dọc, xà ngang và gắn xuống mặt sân phía sau cầu môn một cách chắc chắn. Lưới phải có thiết bị căng một cách thích hợp để không gây cản trở hoạt động của thủ môn cũng như không để bóng có thể bật trở lại sân, khi bóng đã hoàn toàn vượt qua đường cầu môn.
    Chất liệu lưới cầu môn phải bằng sợi vải, sợi đay hoặc sợi ny lon.
    Các cột dọc, xà ngang của cầu môn phải được sơn màu trắng.
    8. Sự an toàn:
    Cầu môn phải được gắn một cách chắc chắn xuống mặt sân. Những cầu môn lắp ráp cũng có thể được sử dụng nếu đảm bảo đủ những yêu cầu của Luật.
    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
    LUẬT QUỐC TẾ
    Quyết định 1.
    Trong thi đấu khi xà ngang bị lệch hoặc gãy thì trận đấu phải ngừng lại. Nếu không thể thay thế hoặc sửa chữa một cách an toàn được thì trận đấu phải huỷ bỏ. Cấm việc dùng sợi dây để thay thế xà ngang. Trường hợp có thể sửa chữa, thay thế được thì trận đấu sẽ được tiếp tục trở lại bằng quả "thả bóng chạm đất" tại nơi có bóng khi ngưng cuộc.
    Quyết định 2.
    Cột dọc, xà ngang phải được làm bằng gỗ, kim loại hay chất liệu khác được hội đồng luật cho phép. Tiết diện của nó có thể là hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn hay hình bầu dục và không gây nguy hiểm cho cầu thủ.
    Quyết định 3.
    Không có bất cứ hình thức quảng cáo thương mại nào trong sân và trên các trang thiết bị thi đấu (gồm: lưới, cột dọc, xà ngang...) từ thời điểm đổi bóng vào sân và rời sân sau khi kết thúc hiệp I và quay trở lại sân cho đến khi kết thúc trận đấu. Đặc biệt không được dùng bất kỳ chất liệu quảng cáo nào trưng bày trên cầu môn, lưới, cờ và cột cờ góc. Các trang thiết bị thi đấu không được gắn các phương tiện thông tin (camera, microphon...).
    Quyết định 4.
    Không được có bất kỳ một hình thức quảng cáo nào ở mặt đất trong khu vực kỹ thuật hoặc trong khu vực được giới hạn bởi đường biên dọc với đường song song và cách biên dọc 1m của khu vực kỹ thuật. Ngoài ra không được có quảng cáo ở khu vực giữa đường cầu môn với lưới cầu môn.
    Quyết định 5.
    Các biểu tượng của FIFA; Liên đoàn bóng đá khu vực, quốc gia hoặc Câu lạc bộ đều không được phép xuất hiện trên sân thi đấu trong suốt thời gian diễn ra trận đấu như quyết định 3.
    Quyết định 6.
    Phải kẻ một đoạn thẳng ở ngoài sân thi đấu, vuông góc với biên ngang cách cột cờ góc 10m. Đoạn thẳng này giúp trọng tài xác định vị trí đứng hợp lệ của cầu thủ đối phương khi thực hiện quả phạt góc

    LUẬT II
    BÓNG
    1. Chất lượng và kích thước:
    - Bóng hình cầu.
    - Vỏ ngoài bằng da hoặc chất liệu khác được công nhận.
    - Chu vi không được lớn hơn 70cm và không được nhỏ hơn 68cm.
    - Trọng lượng lúc bắt đầu trận đấu không được nặng hơn 450gr và không được nhẹ hơn 410gr.
    - Áp suất từ 0,6 đến 1,1 átmốtphe.
    2. Quy định việc thay thế khi bóng hỏng:
    a. Nếu bóng bị nổ hoặc hỏng trong lúc trận đấu đang tiến hành:
    - Ngừng trận đấu.
    - Tiếp tục trận đấu bằng quả thả bóng chạm đất tại nơi phát hiện bóng hỏng.
    b. Nếu bóng bị nổ hoặc hỏng trong thời gian trận đấu tạm ngừng, sẽ bắt đầu lại trận đấu thích hợp với nguyên nhân ngừng trận đấu.
    c. Trong suốt quá trình trận đấu, chỉ có trọng tài mới có quyền quyết định bóng thi đấu.
    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
    LUẬT QUỐC TẾ
    Quyết định 1
    Trong những trận đấu chính thức, chỉ những quả bóng đáp ứng đúng những tiêu chuẩn của Luật 2, mới được phép sử dụng để thi đấu. Những trận đấu do FIFA hoặc Liên đoàn bóng đá châu lục tổ chức, chỉ những quả bóng có 1 trong 3 dòng chữ chính thức sau đây mới được sử dụng để thi đấu:
    • Được FIFA phê duyệt
    • Được FIFA kiểm tra.
    • Đạt tiêu chuẩn bóng thi đấu quốc tế. Dòng chữ ghi trên bóng chứng tỏ bóng đã được kiểm tra chất lượng và đạt những tiêu chuẩn tối thiểu của Luật 2.
    Danh sách những yêu cầu bổ sung đặc biệt cho từng chủng loại phải được Hội đồng Luật quốc tế phê chuẩn. Bộ phận kiểm tra phải được FIFA phê duyệt.
    Có thể yêu cầu được sử dụng bóng đạt một trong 3 tiêu chuẩn nêu trên. Ngoài ra trong các trận đấu không chính thức khác, bóng được sử dụng phải đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu của Luật 2.
    Quyết định 2.
    Trong những trận đấu do FIFA tổ chức hoặc những trận đấu do Liên đoàn bóng đá quốc gia tổ chức, bóng thi đấu không được phép có bất cứ hình thức quảng cáo thương mại nào. Chỉ được có những biểu tượng của giải, của Ban tổ chức giải và nhãn hiệu được công nhận của nhà sản xuất bóng. Tuy nhiên điều lệ giải phải có quy định hạn chế về kích thước và số lượng các biểu tượng đó.
    LUẬT III
    SỐ LƯỢNG CẦU THỦ
    1. Cầu thủ:
    Trong một trận đấu phải có 2 đội. Mỗi đội có tối đa 11 người trong đó có 1 thủ môn. Trận đấu không được thực hiện nếu một trong 2 đội không còn đủ 7 cầu thủ.
    2. Trong những giải chính thức:
    Những trận đấu do FIFA, Liên đoàn bóng đá khu vực và các Liên đoàn bóng đá quốc gia tổ chức, chỉ được phép thay thế tối đa 3 cầu thủ. Điều lệ giải phải có quy định số lượng cầu thủ dự bị được phép đăng ký mỗi trận đấu trong khoảng cho phép từ 3 đến tối đa 7 cầu thủ.
    3. Trong những giải không chính thức:
    Trong những trận đấu không chính thức (như giao hữu) số lượng cầu thủ dự bị được thay thế không bị hạn chế với điều kiện: - Những đội bóng có liên quan phải thảo luận với nhau về số cầu thủ được thay thế tối đa trong trận đấu. - Thoả thuận đó phải được thông báo với trọng tài trước khi trận đấu bắt đầu. Nếu trọng tài không được thông báo hoặc các đội bóng không có được sự thoả thuận trước trận đấu bắt đầu. Cầu thủ dự bị không đăng ký không được phép tham gia trận đấu.
    4. Quy định về việc thay thế cầu thủ:
    - Việc thay thế cầu thủ phải được thông báo trước với trọng tài.
    - Cầu thủ dự bị chỉ được vào sân khi cầu thủ được thay thế đã ra khỏi sân, đồng thời phải có sự cho phép của trọng tài chính.
    - Cầu thủ dự bị chỉ được vào sân từ ngoài đường biên dọc tại điểm gặp đường giới hạn nửa sân, khi bóng ngoài cuộc.
    - Việc thay thế kết thúc khi cầu thủ dự bị đã vào trong sân thi đấu.
    - Lúc này cầu thủ dự bị trở thành chính thức và cầu thủ được thay ra không được tham gia trận đấu nữa.
    - Cầu thủ đã thay ra không còn được phép tham gia trận đấu.
    - Trong các trường hợp thay thế cầu thủ, việc cầu thủ có được thi đấu hay không thuộc quyền hạn của trọng tài.
    5. Quy định về thay thế thủ môn:
    Bất kỳ cầu thủ nào cũng được phép thay thế thủ môn với điều kiện:
    - Phải thông báo trước với trọng tài.
    - Chỉ được thực hiện khi bóng ngoài cuộc.
    CÁCH XỬ PHẠT:
    1. Cầu thủ dự bị vào sân không có phép của trọng tài:
    - Dừng trận đấu.
    - Cầu thủ đó bị cảnh cáo và bị mời ra khỏi sân.
    - Trận đấu được tiếp tục bằng quả "thả bóng chạm đất" tại nơi có bóng khi trận đấu tạm dừng.
    2. Nếu cầu thủ thay thế vị trí với thủ môn lúc trận đấu đang tiếp diễn mà không được phép của trọng tài:
    - Vẫn để trận đấu tiếp tục
    - Trong lần ngưng cuộc (tự nhiên) đầu tiên.
    Hai cầu thủ vi phạm sẽ bị cảnh cáo.
    3. Những vi phạm khác của luật.
    Những cầu thủ có những hành vi khác về điều luật này đều sẽ bị cảnh cáo và nhận thẻ vàng. Trong trường hợp đó trận đấu sẽ được tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi có bóng khi trận đấu dừng.
    4. Cầu thủ đã đăng ký chính thức bị truất quyền thi đấu trước khi trận đấu bắt đầu sẽ được quyền thay thế bằng một cầu thủ dự bị có đăng ký với trọng tài trước trận đấu. Nhưng nếu một cầu thủ dự bị bị trọng tài truất quyền thi đấu trước và sau khi bắt đầu trận đấu sẽ không được bổ sung một cầu thủ dự bị khác.
    QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
    LUẬT QUỐC TẾ
    Quyết định 1.
    Ngoài những quy định của Luật 3, Liên đoàn bóng đá quốc gia có thể quy định số lượng tối thiểu cầu thủ cho một đội bóng trong trận đấu.
    Hội đồng Luật quốc tế cho rằng trận đấu không thể tiếp tục được nếu một trong hai đội bóng không còn đủ 7 cầu thủ.
    Quyết định 2.
    Hoạt động của quan chức trong khu vực kỹ thuật: Trong từng thời điểm của trận đấu, một quan chức của đội bóng có thể rời ghế ngồi ra chỉ đạo chiến thuật cho cầu thủ trong phạm vi khu vực kỹ thuật và phải trở về ghế ngồi ngay sau đó.
    Các quan chức đội bóng phải ở trong khu vực kỹ thuật và luôn có thái độ đúng mực.

    LUẬT IV
    TRANG PHỤC CỦA CẦU THỦ
    1. Sự an toàn
    Cầu thủ không được sử dụng hoặc mang theo những đồ vật có thể gây nguy hiểm cho mình hoặc cho các cầu thủ khác (gồm các loại trang sức…).
    2. Trang phục cơ bản
    Cầu thủ trong thi đấu phải mang những trang phục:
    - Áo thi đấu.
    - Quần đùi
    - Nếu mặc quần giữ ấm phía trong quần đùi thì phải có mầu cùng với màu quần đùi thi đấu.
    - Tất dài.
    - Bọc ống chân.
    - Giầy.
    3. Bọc ống chân:
    - Bọc ống chân phải được bít tất dài phủ kín.
    - Bằng nguyên liệu thích hợp như: cao su, plastic hoặc chất liệu tương tự.
    - Có khả năng bảo vệ tốt.
    4. Thủ môn:
    Thủ môn phải mặc trang phục thi đấu có màu dễ phân biệt với những cầu thủ khác và trọng tài.
    5. Việc cho phép cầu thủ đeo kính thi đấu:
    Hội đồng Luật quốc tế cho phép cầu thủ (đặc biệt là cầu thủ trẻ) đeo những loại kính mắt thể thao với kỹ thuật hiện đại, không gây nguy hiểm cho mình và các cầu thủ khác. Các trọng tài cần xem xét đặc tính an toàn của kính để quyết định cho phép hoặc không cho phép cầu thủ đeo kính trong thi đấu.
    CÁCH XỬ PHẠT:
    Đối với những vi phạm điều Luật 4:
    - Không cần thiết phải dừng trận đấu.
    - Bất cứ cầu thủ nào vi phạm điều luật này sẽ được trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh trang trang phục.
    - Khi bóng dừng, cầu thủ phải rời sân trừ trường hợp đã chỉnh trang được trang phục ngay trước đó.
    - Nếu rời sân để chỉnh đốn trang phục, khi muốn trở lại sân, cầu thủ đó phải được trọng tài cho phép khi bóng ngoài cuộc.
    - Trước khi được phép tiếp tục thi đấu, cầu thủ này phải được trọng tài kiểm tra.
    - Một cầu thủ bị trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh đốn trang phục, nếu khi trở lại sân không có phép của trọng tài, trọng tài ngưng trận đấu, cảnh cáo cầu thủ đó và trận đấu được tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp cho đội đối phương được ảnh hưởng tại nơi có bóng khi trận đấu tạm dừng.
    LUẬT V
    TRỌNG TÀI
    Trọng tài là người kiểm soát và điều hành mọi diễn biến của trận đấu.
    1. Quyền hạn và nhiệm vụ:
    - Đảm bảo việc áp dụng đúng luật.
    - Phối hợp với trợ lý trọng tài và trọng tài thứ tự trong việc kiểm soát và điều hành trận đấu.
    - Đảm bảo bóng thi đấu phải đúng yêu cầu của Luật 2.
    - Trang phục của các đấu thủ phải đúng các quy định của Luật 4.
    - Theo dõi thời gian của các đấu thủ phải đúng các quy định.
    - Tạm dừng, tạm hoãn hoặc huỷ bỏ trận đấu nếu có sự cố liên quan ở ngoài sân thi đấu.
    - Tạm dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chấn thương nặng phải đưa ngay ra ngoài sân thi đấu để chữa trị.
    - Để trận đấu tiếp tục đến khi bóng ngoài cuộc nếu nhận thấy cầu thủ bị chấn thương nhẹ.
    - Những cầu thủ chấn thương chảy máu phải được rời sân để điều trị. Trọng tài chỉ cho phép cầu thủ đó trở lại thi đấu khi vết thương đã cầm máu.
    - Để trận đấu tiếp tục mỗi khi có hành vi phạm lỗi nếu trọng tài nhận thấy việc thổi phạt sẽ có lợi cho đội phạm lỗi (để lợi thế).
    Tuy nhiên trong khoảng thời gian ngắn (2 đến 3 giây) tình huống lợi thế không được áp dụng thì trọng tài sẽ thổi phạt ngay tình huống phạm lỗi trước đó.
    - Nếu cầu thủ cùng một thời điểm vi phạm 2 lỗi sẽ bị phạt theo lỗi nặng hơn.
    - Trọng tài không nhất thiết phải dừng ngay trận đấu để cảnh cáo (hoặc truất quyền thi đấu) cầu thủ có hành vi phạm lỗi. Nếu áp dụng phép lợi thế để trận đấu tiếp tục thì trọng tài sẽ cảnh cáo (hoặc truất quyền thi đấu) cầu thủ phạm lỗi ngay sau khi bóng ngoài cuộc.
    - Quan chức nào của đội bóng có những hành vi không đúng đắn (theo quy định) sẽ bị trọng tài trục xuất ngay lập tức khỏi khu vực sân thi đấu.
    - Trọng tài phải coi trọng những chỉ dẫn của trợ lý trọng tài đối với những tình huống vi phạm xảy ra ngoài tầm quan sát của mình.
    - Trọng tài không cho phép bất kỳ ai được vào sân khi trận đấu chưa dừng và chưa có ký hiệu đồng ý.
    - Cho phép bắt đầu lại trận đấu sau lần tạm dừng.
    - Có trách nhiệm báo cáo đầy đủ mọi chi tiết về những tình huống vi phạm kỷ luật của bất kỳ cầu thủ nào và quan chức đội bóng, xảy ra trước, trong và sau trận đấu.
    2. Những quyết định của trọng tài:
    Những quyết định của trọng tài trong trận đấu là quyết định cuối cùng. Trọng tài có thể thay đổi quyết định của mình nếu nhận thấy quyết định đó thiếu chính xác hoặc xử lý theo nhận định của trợ lý, nhưng phải hành động trước khi trận đấu được tiếp tục trở lại.
    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
    LUẬT QUỐC TẾ
    Quyết định 1.
    Trọng tài, các trợ lý trọng tài, trọng tài thứ 4 không có trách nhiệm đối với:
    + Bất kỳ thương tổn nào của cầu thủ, quan chức, khán giả.
    + Bất kỳ tổn thất nào về tài sản.
    + Bất kỳ một thương tổn nào khác đối với một cá nhân, Câu lạc bộ, Công ty, Hiệp hội…hoặc đơn vị tương đương, do trọng tài ra bất kỳ một quyết định nào theo Luật bóng đá hoặc thi hành những quy định của điều lệ thi đấu như:
    a. Tạm dừng hay tiếp tục trận đấu khi có sự cố về thời tiết trên sân hay xung quanh sân.
    b. Quyết định huỷ bỏ trận đấu vì bất cứ lý do nào.
    c. Quyết định liên quan đến điều kiện kỹ thuật các trang thiết bị thi đấu như: khung cầu môn, cột cờ góc, bóng…không đáp ứng đúng mọi yêu cầu của Luật.
    d. Quyết định dừng hay tiếp tục trận đấu do sự cố khán giả gây rối hay bất cứ sự việc gì xảy ra trên khu vực khán giả.
    e. Quyết định tạm dừng hay tiếp tục trận đấu để cho phép bác sỹ săn sóc cầu thủ bị chấn thương.
    f. Quyết định buộc cầu thủ bị chấn thương phải đưa ra ngoài để săn sóc cũng như phải cho phép những cầu thủ đã săn sóc chấn thương ở ngoài sân được nhanh chóng trở lại thi đấu. Để làm tốt nhiệm vụ này, trọng tài nên giao cho trọng tài thứ 4 hỗ trợ việc quản lý cầu thủ chấn thương ra, vào sân.
    g. Quyết định cho hoặc không cho phép một cầu thủ mang thêm một loại trang phục khác ngoài quy định của Luật.
    h. Quyết định (đây cũng là trách nhiệm của trọng tài) cho hoặc không cho phép bất cứ ai (người của đội bóng, nhân viên sân bãi, nhân viên an ninh, nhiếp ảnh hoặc phóng viên đại diện báo chí…) có mặt ở khu vực gần sân thi đấu.
    i. Những quyết định nào khác của trọng tài phải phù hợp với Luật bóng đá, phù hợp với nhiệm vụ trọng tài cho FIFA, Liên đoàn khu vực, Liên đoàn quốc gia, các quy định của Hội đồng Luật quốc tế.
    Quyết định 2.
    Trong các giải hoặc các trận đấu nào quy định có trọng tài thứ tư, thì trách nhiệm của trọng tài thứ tư phải tuân theo sự hướng dẫn và những bổ sung luật của Hội đồng Luật quốc tế. Quyết định 3. Những sự việc công nhận hay không công nhận bàn thắng kể cả kết quả của trận đấu đều thuộc quyền quyết định của trọng tài.
    LUẬT VI
    TRỢ LÝ TRỌNG TÀI
    Nhiệm vụ:
    Mỗi trận đấu phải có 2 trợ lý, tuỳ thuộc vào quyết định của trọng tài, trợ lý có nhiệm vụ phải xác định rõ:
    a. Khi bóng đã vượt quá các vạch giới hạn của sân thi đấu.
    b. Đội được đá phạt góc, phát bóng hoặc ném biên.
    c. Thời điểm có cầu thủ phạm luật việt vị.
    d. Theo dõi việc thay thế cầu thủ dự bị.
    e. Khi có lỗi khiếm nhã hoặc có hành vi phạm luật xảy ra ngoài tầm quan sát của trọng tài.
    g. Khi có tình huống phạm lỗi xảy ra ở gần vị trí của trợ lý trọng tài hơn trọng tài (kể cả những tình huống phạm lỗi trong khu phạt đền).
    h. Khi đá phạt đền:
    - Thủ môn có di chuyển khỏi đường cầu môn trước khi bóng được đá đi không.
    - Khi bóng đã qua vạch cầu môn.
    i. Trợ lý trọng tài có trách nhiệm giúp trọng tài điều hành trận đấu theo luật và đặc biệt trong các tình huống đá phạt ở gần vị trí của mình, trợ lý trọng tài có thể vào sân để giúp kiểm soát khoảng cách 9m15.
    k. Trợ lý trọng tài có những quyết định không chính xác, thể hiện năng lực yếu kém có thể bị trọng tài thay thế và sự việc này trọng tài có trách nhiệm báo cáo về Ban tổ chức giải.

    LUẬT VII
    THỜI GIAN TRẬN ĐẤU

    1. Thời gian trận đấu:
    Mỗi trận đấu có 2 hiệp và mỗi hiệp là 45 phút, trừ trường hợp có sự thoả thuận giữa trọng tài cùng 2 đội bóng tham dự trận đấu.

    Bất kỳ đề nghị nào thay đổi thời gian của trận đấu (thí dụ vì điều kiện ánh sáng, thời tiết chỉ thi đấu mỗi hiệp 40 phút) phải có sự thoả thuận trước khi bắt đầu và tuân theo những quy định của điều lệ thi đấu.
    2. Thời gian nghỉ giữa 2 hiệp:
    - Cầu thủ được quyền có thời gian nghỉ giữa 2 hiệp.
    - Thời gian nghỉ không quá 15 phút.
    - Điều kiện giải phải quy định rõ thời gian nghỉ giữa 2 hiệp.
    - Thời gian nghỉ chỉ có thể thay đổi nếu có sự đồng ý của trọng tài.
    3. Bù thời gian:
    Những tình huống sau đây được tính để bù thêm thời gian cho mỗi hiệp đấu:
    - Những sự thay thế cầu thủ dự bị.
    - Quá trình chăm sóc cầu thủ bị chấn thương.
    - Di chuyển cầu thủ bị chấn thương ra ngoài sân để chăm sóc.
    - Thời gian “chết”.
    - Bất kể nguyên nhân nào khác.
    Trọng tài là người quyết định số thời gian được bù thêm cho mỗi hiệp đấu.
    4. Đá phạt đền:
    Ngay trước khi kết thúc mỗi hiệp đấu, có đội bóng được hưởng quả phạt đền thì hiệp đấu đó phải được kéo dài thêm để đá xong quả phạt đó.
    5. Hiệp phụ:
    Điều lệ thi đấu phải quy định thời gian thi đấu của mỗi hiệp phụ. Việc đá thêm hiệp phụ được quy định rõ ở Luật 8.
    6. Trận đấu bị đình chỉ:
    Trận đấu bị đình chỉ được tổ chức lại nếu được quy định trong điều lệ giải.

    LUẬT VIII
    BẮT ĐẦU VÀ BẮT ĐẦU LẠI TRẬN ĐẤU
    1. Mở đầu trận đấu:
    Trọng tài sẽ tung đồng tiền để xác định đội thắng có quyền chọn cầu môn nào mà đội mình sẽ tấn công trong hiệp một của trận đấu. Đội bạn sẽ được quyền đá quả giao bóng bắt đầu trận đấu. Đội được quyền chọn sân sẽ được đá quả giao bóng để bắt đầu hiệp 2.
    Bắt đầu hiệp 2 của trận đấu 2 đội đổi sân và như vậy hướng tấn công của từng đội sẽ ngược lại với hiệp một.
    2. Quả giao bóng:
    Thực hiện quả giao bóng là một hình thức bắt đầu hoặc bắt đầu lại trận đấu:
    - Bắt đầu trận đấu.
    - Sau mỗi bàn thắng hợp lệ.
    - Bắt đầu hiệp 2 của trận đấu.
    - Bắt đầu mỗi hiệp phụ của trận đấu phụ.
    Quả giao bóng trực tiếp vào cầu môn được công nhận bàn thắng.
    3. Quá trình tiến hành quả giao bóng:
    - Tất cả cầu thủ của đội bóng phải đứng trên phần sân của đội mình.
    - Đội không được quyền giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất là 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc. - Bóng phải được đặt tại điểm giao bóng trong vòng trung tâm.
    - Trọng tài thổi còi ra lệnh bắt đầu.
    - Bóng trong cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển về phía trước.
    - Cầu thủ đá quả giao bóng không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa được chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác.
    - Sau mỗi bàn thắng, đội thua được đá quả giao bóng để bắt đầu lại trận đấu.
    4. Phạt những lỗi vi phạm:
    a. Cầu thủ giao bóng chạm bóng liên tiếp 2 lần trước khi bóng được đá hoặc chạm bởi một cầu thủ khác:
    * Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    b. Đối với bất kỳ lỗi nào khác xảy ra trong quá trình tiến hành quả giao bóng.
    * Quả giao bóng đều được thực hiện lại.
    5. Quả “thả bóng chạm đất”:

    Sau mỗi lần tạm dừng trận đấu vì bất kỳ lý do nào không được đề cập trong luật bóng đá thì trận đấu sẽ được tiếp tục trở lại bằng quả “thả bóng chạm đất”.
    6. Quá trình tiến hành quả “thả bóng chạm đất”:
    - Quả “thả bóng chạm đất” sẽ được trọng tài thực hiện tại nơi bóng dừng.
    - Trận đấu được bắt đầu trở lại ngay sau khi bóng chạm đất.
    7. Phạt những vi phạm:
    Quả “thả bóng chạm đất” phải được thực hiện lại nếu:
    - Có một cầu thủ chạm bóng trước khi bóng chạm đất.
    - Sau khi thả bóng đã vượt ra ngoài đường giới hạn sân trước khi chạm chân một cầu thủ.
    8. Trường hợp đặc biệt:
    - Đội phòng ngự được hưởng quả phạt trong khu cầu môn của đội mình có thể đặt bóng tại bất kỳ điểm nào trong khu cầu môn.
    - Đội tấn công được hưởng quả phạt gián tiếp trong khu cầu môn của đội phòng ngự, bóng sẽ được đặt trên đường song song với đường cầu môn nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
    - Nếu quả “thả bóng chạm đất” phải thực hiện trong khu vực cầu môn thì bóng sẽ được thả tại điểm trên đường song song với đường cầu môn và gần vị trí có bóng nhất, khi trận đấu tạm dừng.

    LUẬT IX
    BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC
    1. Bóng ngoài cuộc: (Ball out of play) Bóng được coi là ngoài cuộc khi:

    - Bóng đã vượt qua hẳn đường biên ngang, biên dọc dù ở mặt sân hay trên không.
    - Trọng tài thổi còi dừng trận đấu.
    2. Bóng trong cuộc: (Ball in play)
    Bóng được coi là trong cuộc suốt thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc trận đấu, kể cả các trường hợp:
    - Bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc.
    - Bóng bật vào sân từ trọng tài hoặc trợ lý trọng tài đứng trong sân.

    LUẬT X
    BÀN THẮNG HỢP LỆ
    1. Bàn thắng hợp lệ: (Goal)

    Bàn thắng hợp lệ khi quả bóng đã hoàn toàn vượt qua đường cầu môn giữa 2 cột dọc và dưới xà ngang nếu trước đó không có xảy ra những vi phạm nào về luật. Đội ghi được nhiều bàn thắng hơn trong trận đấu là đội thắng.
    Nếu hai đội không ghi được bàn thắng nào hoặc có số bàn thắng bằng nhau thì trận đấu được coi là hoà.
    2. Điều lệ thi đấu:
    Khi trận đấu theo thể thức loại trực tiếp nếu có kết thúc hoà, điều lệ giải có thể quy định đá thêm thời gian (bằng trận đấu phụ) hoặc tiến hành theo những quyết định xác định đội thắng của Hội đồng Luật quốc tế.

    LUẬT XI
    VIỆT VỊ
    1. Vị trí việt vị:
    - Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị không coi là phạm luật việt vị.
    - Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị khi:
    + Đứng gần đường biên ngang sân đối phương hơn bóng và gần hơn 2 cầu thủ đối phương cuối cùng.
    - Cầu thủ không ở vị trí việt vị khi:
    + Còn ở phần sân đội nhà.
    + Ngang hàng với hậu vệ đối phương cuối cùng khi trong khung thành có thủ môn.
    + Ngang hàng với 2 đối phương cuối cùng.

    2. Phạm lỗi:
    Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị chỉ bị xử phạt nếu ở thời điểm đồng đội chuyền bóng hoặc chạm bóng, theo nhận định của trọng tài cầu thủ đó tham gia vào đường bóng đó một cách tích cực như:
    • Tham gia tình huống đó.
    • Cản trở đối phương.
    • Cố tình chiếm lợi thế trong tình huống việt vị.
    3. Không phạm lỗi:
    Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị không bị phạt nếu nhận bóng trực tiếp từ:
    • Quả phát bóng.
    • Quả ném biên
    • Quả phạt góc.
    4. Phạt những vi phạm:
    Cầu thủ vi phạm bất kỳ lỗi việt vị nào, trọng tài đều cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi xảy ra lỗi.
    LUẬT XII
    LỖI VÀ HÀNH VI KHIẾM NHÃ
    Vi phạm lỗi và có hành vi khiếm nhã sẽ bị xử phạt như sau:
    A. NHỮNG LỖI PHẠT TRỰC TIẾP:
    Đội đối phương sẽ được hưởng quả phạt trực tiếp nếu cầu thủ vi phạm một trong 6 lỗi sau đây mà theo nhận định của trọng tài là bất cẩn, liều lĩnh hoặc dùng sức mạnh một cách thô bạo:
    1. Đá hoặc tìm cách đá đối phương.
    2. Ngáng hoặc tìm cách ngáng đối phương.
    3. Nhẩy vào đối phương.
    4. Chèn đối phương.
    5. Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương.
    6. Xô đẩy đối phương. Đội đối phương cũng sẽ được hưởng quả phạt trực tiếp khi có cầu thủ phạm một trong 4 lỗi sau đây:
    1. Xoạc để lấy bóng nhưng chạm đối phương trước rồi mới chạm bóng.
    2. Lôi kéo đối phương.
    3. Nhổ nước bọt vào đối phương.
    4. Cố tình chơi bóng bằng tay (trừ thủ môn trong khu vực phạt đền của đội mình).
    Quả phạt trực tiếp sẽ được thực hiện tại nơi xảy ra lỗi.
    B. PHẠT ĐỀN:
    Cầu thủ vi phạm bất kỳ một trong 10 lỗi phạt trực tiếp trong khu vực phạt đền của đội mình, không kể bóng đang ở đâu nhưng trong cuộc - sẽ bị phạt quả phạt đền.

    C. QUẢ PHẠT GIÁN TIẾP:
    Thủ môn trong khu phạt đền của đội mình phạm một trong 5 lỗi sau đây sẽ bị phạt quả gián tiếp:
    1. Giữ bóng trong tay lâu quá 6 giây trước khi đưa bóng vào cuộc.
    2. Chạm hoặc bắt bóng trở lại sau khi đã đưa bóng vào cuộc, nếu bóng chưa chạm bất kỳ một cầu thủ nào khác.
    3. Chạm hoặc bắt bóng bằng tay khi đồng đội cố tình chuyền về bằng bàn chân.
    4. Chạm hay bắt bóng từ quả ném biên về của đồng đội
    Theo nhận định của trọng tài, cầu thủ phạm một trong 4 lỗi sau đây sẽ bị phạt quả gián tiếp:
    1. Chơi bóng một cách nguy hiểm.
    2. Ngăn cản đường tiến của đối phương.
    3. Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.
    4. Vi phạm bất kỳ lỗi nào không đề cập trong luật 12 mà bị cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu. Quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện tại nơi xảy ra lỗi.
    XỬ PHẠT KỶ LUẬT.
    Thẻ vàng, thẻ đỏ chỉ sử dụng để cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu với cầu thủ đang thi đấu hoặc cầu thủ dự bị trong khu vực kỹ thuật mà thôi.
    A. Những lỗi bị phạt cảnh cáo (Thẻ vàng). Cầu thủ vi phạm một trong bảy lỗi sau đây sẽ bị cảnh cáo:
    1. Có hành vi phi thể thao.
    2. Có lời lẽ hoặc hành động phản đối lại quyết định của trọng tài.
    3. Liên tục vi phạm Luật.
    4. Trì hoãn trận đấu.
    5. Không tuân thủ quy định về cự ly trong những quả phạt hoặc quả phạt góc.
    6. Vào hoặc trở lại sân không có sự đồng ý của trọng tài.
    7. Tự ý rời khỏi sân không có sự đồng ý của trọng tài.
    B. Những lỗi bị truất quyền thi đấu (Thẻ đỏ).
    Cầu thủ vi phạm một trong 7 lỗi sau đây sẽ bị truất quyền thi đấu:
    1. Có lối chơi thô bạo.
    2. Có hành vi bạo lực.
    3. Nhổ nước bọt vào đối phương hoặc bất kỳ người nào khác.
    4. Ngăn cản một bàn thắng hoặc một cơ hội ghi bàn rõ ràng của đối phương bằng cách cố tình chơi bóng bằng tay (không áp dụng với thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình).
    5. Ngăn cản một cơ hội ghi bàn rõ ràng của đối phương bằng hành động phạm lỗi sẽ bị xử phạt quả trực tiếp hoặc phạt đền.
    6. Dùng lời lẽ hoặc hành động xúc phạm xỉ nhục hoặc lăng mạ.
    7. Nhận thẻ vàng thứ 2 trong một trận đấu.
    Cầu thủ bị phạt thẻ đỏ phải rời khỏi khu vực kỹ thuật và kể cả khu vực sát gần sân thi đấu.
    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
    LUẬT QUỐC TẾ
    Quyết định 1.
    Cầu thủ phạm lỗi bị cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu trong hoặc ngoài sân đối với đối phương, đồng đội, trọng tài, trợ lý trọng tài hoặc bất kỳ ai khác sẽ bị xử phạt kỷ luật tuỳ theo tính chất của lỗi vi phạm.
    Quyết định 2.
    Thủ môn sau khi đã chạm bóng bằng tay hoặc cánh tay được coi là đã khống chế bóng. Cũng được coi là đã khống chế bóng nếu thủ môn cố tình đỡ bóng ra.
    Nhưng nếu theo nhận định của trọng tài trong những tình huống thủ môn phải đẩy bóng ra một cách tình cờ hoặc phải đẩy bóng ra để cứu nguy trong trường hợp bắt bóng khó - sẽ không bị coi là đã khống chế bóng.
    Quyết định 3.
    Theo luật 12, cầu thủ có thể dùng đầu, ngực hoặc đầu gối…đưa bóng về cho thủ môn đội mình. Tuy nhiên theo nhận định của trọng tài, cầu thủ có tiểu xảo cố tình lạm dụng luật trong khi bóng đang trong cuộc, sẽ bị coi là có hành vi phi thể thao.
    Cầu thủ đó bị phạt thẻ vàng và trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi xảy ra lỗi. Trong những trường hợp thực hiện quả phạt cầu thủ nào sử dụng tiểu xảo, lạm dụng quy định của điều luật, cũng bị coi là có hành vi phi thể thao và bị cảnh cáo. Trong những tình huống nêu trên, không tính đến khả năng thủ môn có chạm bóng hay không, mà chỉ phạt cầu thủ có hành vi phi thể thao mà thôi.
    Quyết định 4.
    Động tác xoạc bóng từ phía gây nguy hiểm cho sự an toàn của đối phương sẽ bị xử phạt như hành vi phạm lỗi đặc biệt nghiêm trọng.
    Quyết định 5.
    Bất kỳ hành vi giả vờ nào của cầu thủ trên sân thi đấu nhằm đánh lừa trọng tài đều bị xem là hành vi phi thể thao và bị xử phạt.


    LUẬT XIII
    NHỮNG QUẢ PHẠT
    1. Những loại quả phạt:
    Quả phạt gồm: Quả phạt trực tiếp và gián tiếp. Khi thực hiện các quả phạt, bóng phải được đặt “chết” tại chỗ, cầu thủ đá phạt không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác.
    2. Quả phạt trực tiếp:
    - Bóng đá trực tiếp vào cầu môn đối phương, bàn thắng được công nhận.
    - Nếu bóng đá trực tiếp vào cầu môn đội nhà, bàn thắng không được công nhận và đội đối phương được đá quả phạt góc.
    3. Quả phạt gián tiếp.
    - Ký hiệu: Trọng tài xác nhận quả gián tiếp bằng cách giơ tay lên cao và giữ nguyên tư thế đó cho đến khi quả phạt đã thực hiện, bóng đã chạm cầu thủ khác hoặc ra ngoài các đường giới hạn sân.
    - Bóng vào cầu môn:
    • Bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, đã chạm một cầu thủ khác.
    • Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương, đội đối phương được hưởng quả đá phát bóng.
    • Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội nhà, đội đối phương được hưởng quả phạt góc.
    4. Vị trí đá phạt:
    - Quả phạt trong khu phạt đền:
    + Quả phạt trực tiếp hoặc gián tiếp của đội phòng ngự được hưởng:
    • Tất cả cầu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc, trừ trường hợp họ đã đứng trên đường cầu môn giữa 2 cột dọc.
    • Bóng vào cuộc khi được đá và di chuyển.
    • Nếu điểm phạm lỗi ở trong khu cầu môn, quả phạt gián tiếp được thực hiện trên đường song song với đường cầu môn tại nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
    - Quả phạt ngoài khu phạt đền.
    • Tất cả cầu thủ đối phương đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
    • Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển.
    • Quả phạt được thực hiện tại nơi xảy ra phạm lỗi.
    5. Xử phạt những vi phạm:
    a. Khi thực hiện quả phạt, cầu thủ đối phương không đứng cách xa bóng đủ 9m15:
    • Quả phạt được đá lại
    b. Khi thực hiện quả phạt trong khu vực phạt đền của đội mình, nếu bóng chưa trực tiếp vào cuộc (có nghĩa là chưa ra khỏi khu phạt đền):
    • Thực hiện lại quả phạt.
    c. Cầu thủ thực hiện quả phạt không phải thủ môn.
    Nếu sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ đá phạt tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi bóng chạm cầu thủ khác.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    d. Sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ đá phạt cố tình dùng tay chơi bóng trước khi có cầu thủ khác chạm bóng:
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt đền nếu lỗi xảy ra trong khu phạt đền của đội phạm lỗi.
    e. Thủ môn thực hiện quả phạt.
    + Nếu sau khi bóng vào cuộc thủ môn chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi cầu thủ khác chạm vào.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    + Sau khi bóng vào cuộc thủ môn cố tình chơi bóng bằng tay trước khi cầu thủ khác chạm bóng:
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp nếu lỗi xảy ra ngoài khu phạt đền của đội phạm lỗi. Quả phạt được thực hiện tại nơi phạm lỗi.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi nếu vi phạm xảy ra trong khu phạt đền của đội phạm lỗi. Quả phạt được thực hiện tại nơi phạm lỗi.
    LUẬT VII
    THỜI GIAN TRẬN ĐẤU
    1. Thời gian trận đấu:
    Mỗi trận đấu có 2 hiệp và mỗi hiệp là 45 phút, trừ trường hợp có sự thoả thuận giữa trọng tài cùng 2 đội bóng tham dự trận đấu.

    Bất kỳ đề nghị nào thay đổi thời gian của trận đấu (thí dụ vì điều kiện ánh sáng, thời tiết chỉ thi đấu mỗi hiệp 40 phút) phải có sự thoả thuận trước khi bắt đầu và tuân theo những quy định của điều lệ thi đấu.
    2. Thời gian nghỉ giữa 2 hiệp:
    - Cầu thủ được quyền có thời gian nghỉ giữa 2 hiệp.
    - Thời gian nghỉ không quá 15 phút.
    - Điều kiện giải phải quy định rõ thời gian nghỉ giữa 2 hiệp.
    - Thời gian nghỉ chỉ có thể thay đổi nếu có sự đồng ý của trọng tài.
    3. Bù thời gian:
    Những tình huống sau đây được tính để bù thêm thời gian cho mỗi hiệp đấu:
    - Những sự thay thế cầu thủ dự bị.
    - Quá trình chăm sóc cầu thủ bị chấn thương.
    - Di chuyển cầu thủ bị chấn thương ra ngoài sân để chăm sóc.
    - Thời gian “chết”.
    - Bất kể nguyên nhân nào khác.
    Trọng tài là người quyết định số thời gian được bù thêm cho mỗi hiệp đấu.
    4. Đá phạt đền:
    Ngay trước khi kết thúc mỗi hiệp đấu, có đội bóng được hưởng quả phạt đền thì hiệp đấu đó phải được kéo dài thêm để đá xong quả phạt đó.
    5. Hiệp phụ:
    Điều lệ thi đấu phải quy định thời gian thi đấu của mỗi hiệp phụ. Việc đá thêm hiệp phụ được quy định rõ ở Luật 8.
    6. Trận đấu bị đình chỉ:
    Trận đấu bị đình chỉ được tổ chức lại nếu được quy định trong điều lệ giải.

    LUẬT VIII
    BẮT ĐẦU VÀ BẮT ĐẦU LẠI TRẬN ĐẤU
    1. Mở đầu trận đấu:
    Trọng tài sẽ tung đồng tiền để xác định đội thắng có quyền chọn cầu môn nào mà đội mình sẽ tấn công trong hiệp một của trận đấu. Đội bạn sẽ được quyền đá quả giao bóng bắt đầu trận đấu. Đội được quyền chọn sân sẽ được đá quả giao bóng để bắt đầu hiệp 2.
    Bắt đầu hiệp 2 của trận đấu 2 đội đổi sân và như vậy hướng tấn công của từng đội sẽ ngược lại với hiệp một.
    2. Quả giao bóng:
    Thực hiện quả giao bóng là một hình thức bắt đầu hoặc bắt đầu lại trận đấu:
    - Bắt đầu trận đấu.
    - Sau mỗi bàn thắng hợp lệ.
    - Bắt đầu hiệp 2 của trận đấu.
    - Bắt đầu mỗi hiệp phụ của trận đấu phụ.
    Quả giao bóng trực tiếp vào cầu môn được công nhận bàn thắng.
    3. Quá trình tiến hành quả giao bóng:
    - Tất cả cầu thủ của đội bóng phải đứng trên phần sân của đội mình.
    - Đội không được quyền giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất là 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc. - Bóng phải được đặt tại điểm giao bóng trong vòng trung tâm.
    - Trọng tài thổi còi ra lệnh bắt đầu.
    - Bóng trong cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển về phía trước.
    - Cầu thủ đá quả giao bóng không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa được chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác.
    - Sau mỗi bàn thắng, đội thua được đá quả giao bóng để bắt đầu lại trận đấu.
    4. Phạt những lỗi vi phạm:
    a. Cầu thủ giao bóng chạm bóng liên tiếp 2 lần trước khi bóng được đá hoặc chạm bởi một cầu thủ khác:
    * Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    b. Đối với bất kỳ lỗi nào khác xảy ra trong quá trình tiến hành quả giao bóng.
    * Quả giao bóng đều được thực hiện lại.
    5. Quả “thả bóng chạm đất”:

    Sau mỗi lần tạm dừng trận đấu vì bất kỳ lý do nào không được đề cập trong luật bóng đá thì trận đấu sẽ được tiếp tục trở lại bằng quả “thả bóng chạm đất”.
    6. Quá trình tiến hành quả “thả bóng chạm đất”:
    - Quả “thả bóng chạm đất” sẽ được trọng tài thực hiện tại nơi bóng dừng.
    - Trận đấu được bắt đầu trở lại ngay sau khi bóng chạm đất.
    7. Phạt những vi phạm:
    Quả “thả bóng chạm đất” phải được thực hiện lại nếu:
    - Có một cầu thủ chạm bóng trước khi bóng chạm đất.
    - Sau khi thả bóng đã vượt ra ngoài đường giới hạn sân trước khi chạm chân một cầu thủ.
    8. Trường hợp đặc biệt:
    - Đội phòng ngự được hưởng quả phạt trong khu cầu môn của đội mình có thể đặt bóng tại bất kỳ điểm nào trong khu cầu môn.
    - Đội tấn công được hưởng quả phạt gián tiếp trong khu cầu môn của đội phòng ngự, bóng sẽ được đặt trên đường song song với đường cầu môn nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
    - Nếu quả “thả bóng chạm đất” phải thực hiện trong khu vực cầu môn thì bóng sẽ được thả tại điểm trên đường song song với đường cầu môn và gần vị trí có bóng nhất, khi trận đấu tạm dừng.

    LUẬT IX
    BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC
    1. Bóng ngoài cuộc: (Ball out of play) Bóng được coi là ngoài cuộc khi:

    - Bóng đã vượt qua hẳn đường biên ngang, biên dọc dù ở mặt sân hay trên không.
    - Trọng tài thổi còi dừng trận đấu.
    2. Bóng trong cuộc: (Ball in play)
    Bóng được coi là trong cuộc suốt thời gian từ khi bắt đầu đến khi kết thúc trận đấu, kể cả các trường hợp:
    - Bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang cầu môn hoặc cột cờ góc.
    - Bóng bật vào sân từ trọng tài hoặc trợ lý trọng tài đứng trong sân.

    LUẬT X
    BÀN THẮNG HỢP LỆ
    1. Bàn thắng hợp lệ: (Goal)

    Bàn thắng hợp lệ khi quả bóng đã hoàn toàn vượt qua đường cầu môn giữa 2 cột dọc và dưới xà ngang nếu trước đó không có xảy ra những vi phạm nào về luật. Đội ghi được nhiều bàn thắng hơn trong trận đấu là đội thắng.
    Nếu hai đội không ghi được bàn thắng nào hoặc có số bàn thắng bằng nhau thì trận đấu được coi là hoà.
    2. Điều lệ thi đấu:
    Khi trận đấu theo thể thức loại trực tiếp nếu có kết thúc hoà, điều lệ giải có thể quy định đá thêm thời gian (bằng trận đấu phụ) hoặc tiến hành theo những quyết định xác định đội thắng của Hội đồng Luật quốc tế.

    LUẬT XI
    VIỆT VỊ
    1. Vị trí việt vị:
    - Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị không coi là phạm luật việt vị.
    - Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị khi:
    + Đứng gần đường biên ngang sân đối phương hơn bóng và gần hơn 2 cầu thủ đối phương cuối cùng.
    - Cầu thủ không ở vị trí việt vị khi:
    + Còn ở phần sân đội nhà.
    + Ngang hàng với hậu vệ đối phương cuối cùng khi trong khung thành có thủ môn.
    + Ngang hàng với 2 đối phương cuối cùng.

    2. Phạm lỗi:
    Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị chỉ bị xử phạt nếu ở thời điểm đồng đội chuyền bóng hoặc chạm bóng, theo nhận định của trọng tài cầu thủ đó tham gia vào đường bóng đó một cách tích cực như:
    • Tham gia tình huống đó.
    • Cản trở đối phương.
    • Cố tình chiếm lợi thế trong tình huống việt vị.
    3. Không phạm lỗi:
    Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị không bị phạt nếu nhận bóng trực tiếp từ:
    • Quả phát bóng.
    • Quả ném biên
    • Quả phạt góc.
    4. Phạt những vi phạm:
    Cầu thủ vi phạm bất kỳ lỗi việt vị nào, trọng tài đều cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi xảy ra lỗi.
    LUẬT XII
    LỖI VÀ HÀNH VI KHIẾM NHÃ
    Vi phạm lỗi và có hành vi khiếm nhã sẽ bị xử phạt như sau:
    A. NHỮNG LỖI PHẠT TRỰC TIẾP:
    Đội đối phương sẽ được hưởng quả phạt trực tiếp nếu cầu thủ vi phạm một trong 6 lỗi sau đây mà theo nhận định của trọng tài là bất cẩn, liều lĩnh hoặc dùng sức mạnh một cách thô bạo:
    1. Đá hoặc tìm cách đá đối phương.
    2. Ngáng hoặc tìm cách ngáng đối phương.
    3. Nhẩy vào đối phương.
    4. Chèn đối phương.
    5. Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương.
    6. Xô đẩy đối phương. Đội đối phương cũng sẽ được hưởng quả phạt trực tiếp khi có cầu thủ phạm một trong 4 lỗi sau đây:
    1. Xoạc để lấy bóng nhưng chạm đối phương trước rồi mới chạm bóng.
    2. Lôi kéo đối phương.
    3. Nhổ nước bọt vào đối phương.
    4. Cố tình chơi bóng bằng tay (trừ thủ môn trong khu vực phạt đền của đội mình).
    Quả phạt trực tiếp sẽ được thực hiện tại nơi xảy ra lỗi.
    B. PHẠT ĐỀN:
    Cầu thủ vi phạm bất kỳ một trong 10 lỗi phạt trực tiếp trong khu vực phạt đền của đội mình, không kể bóng đang ở đâu nhưng trong cuộc - sẽ bị phạt quả phạt đền.

    C. QUẢ PHẠT GIÁN TIẾP:
    Thủ môn trong khu phạt đền của đội mình phạm một trong 5 lỗi sau đây sẽ bị phạt quả gián tiếp:
    1. Giữ bóng trong tay lâu quá 6 giây trước khi đưa bóng vào cuộc.
    2. Chạm hoặc bắt bóng trở lại sau khi đã đưa bóng vào cuộc, nếu bóng chưa chạm bất kỳ một cầu thủ nào khác.
    3. Chạm hoặc bắt bóng bằng tay khi đồng đội cố tình chuyền về bằng bàn chân.
    4. Chạm hay bắt bóng từ quả ném biên về của đồng đội
    Theo nhận định của trọng tài, cầu thủ phạm một trong 4 lỗi sau đây sẽ bị phạt quả gián tiếp:
    1. Chơi bóng một cách nguy hiểm.
    2. Ngăn cản đường tiến của đối phương.
    3. Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.
    4. Vi phạm bất kỳ lỗi nào không đề cập trong luật 12 mà bị cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu. Quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện tại nơi xảy ra lỗi.
    XỬ PHẠT KỶ LUẬT.
    Thẻ vàng, thẻ đỏ chỉ sử dụng để cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu với cầu thủ đang thi đấu hoặc cầu thủ dự bị trong khu vực kỹ thuật mà thôi.
    A. Những lỗi bị phạt cảnh cáo (Thẻ vàng). Cầu thủ vi phạm một trong bảy lỗi sau đây sẽ bị cảnh cáo:
    1. Có hành vi phi thể thao.
    2. Có lời lẽ hoặc hành động phản đối lại quyết định của trọng tài.
    3. Liên tục vi phạm Luật.
    4. Trì hoãn trận đấu.
    5. Không tuân thủ quy định về cự ly trong những quả phạt hoặc quả phạt góc.
    6. Vào hoặc trở lại sân không có sự đồng ý của trọng tài.
    7. Tự ý rời khỏi sân không có sự đồng ý của trọng tài.
    B. Những lỗi bị truất quyền thi đấu (Thẻ đỏ).
    Cầu thủ vi phạm một trong 7 lỗi sau đây sẽ bị truất quyền thi đấu:
    1. Có lối chơi thô bạo.
    2. Có hành vi bạo lực.
    3. Nhổ nước bọt vào đối phương hoặc bất kỳ người nào khác.
    4. Ngăn cản một bàn thắng hoặc một cơ hội ghi bàn rõ ràng của đối phương bằng cách cố tình chơi bóng bằng tay (không áp dụng với thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình).
    5. Ngăn cản một cơ hội ghi bàn rõ ràng của đối phương bằng hành động phạm lỗi sẽ bị xử phạt quả trực tiếp hoặc phạt đền.
    6. Dùng lời lẽ hoặc hành động xúc phạm xỉ nhục hoặc lăng mạ.
    7. Nhận thẻ vàng thứ 2 trong một trận đấu.
    Cầu thủ bị phạt thẻ đỏ phải rời khỏi khu vực kỹ thuật và kể cả khu vực sát gần sân thi đấu.
    NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
    LUẬT QUỐC TẾ
    Quyết định 1.
    Cầu thủ phạm lỗi bị cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu trong hoặc ngoài sân đối với đối phương, đồng đội, trọng tài, trợ lý trọng tài hoặc bất kỳ ai khác sẽ bị xử phạt kỷ luật tuỳ theo tính chất của lỗi vi phạm.
    Quyết định 2.
    Thủ môn sau khi đã chạm bóng bằng tay hoặc cánh tay được coi là đã khống chế bóng. Cũng được coi là đã khống chế bóng nếu thủ môn cố tình đỡ bóng ra.
    Nhưng nếu theo nhận định của trọng tài trong những tình huống thủ môn phải đẩy bóng ra một cách tình cờ hoặc phải đẩy bóng ra để cứu nguy trong trường hợp bắt bóng khó - sẽ không bị coi là đã khống chế bóng.
    Quyết định 3.
    Theo luật 12, cầu thủ có thể dùng đầu, ngực hoặc đầu gối…đưa bóng về cho thủ môn đội mình. Tuy nhiên theo nhận định của trọng tài, cầu thủ có tiểu xảo cố tình lạm dụng luật trong khi bóng đang trong cuộc, sẽ bị coi là có hành vi phi thể thao.
    Cầu thủ đó bị phạt thẻ vàng và trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi xảy ra lỗi. Trong những trường hợp thực hiện quả phạt cầu thủ nào sử dụng tiểu xảo, lạm dụng quy định của điều luật, cũng bị coi là có hành vi phi thể thao và bị cảnh cáo. Trong những tình huống nêu trên, không tính đến khả năng thủ môn có chạm bóng hay không, mà chỉ phạt cầu thủ có hành vi phi thể thao mà thôi.
    Quyết định 4.
    Động tác xoạc bóng từ phía gây nguy hiểm cho sự an toàn của đối phương sẽ bị xử phạt như hành vi phạm lỗi đặc biệt nghiêm trọng.
    Quyết định 5.
    Bất kỳ hành vi giả vờ nào của cầu thủ trên sân thi đấu nhằm đánh lừa trọng tài đều bị xem là hành vi phi thể thao và bị xử phạt.


    LUẬT XIII
    NHỮNG QUẢ PHẠT
    1. Những loại quả phạt:
    Quả phạt gồm: Quả phạt trực tiếp và gián tiếp. Khi thực hiện các quả phạt, bóng phải được đặt “chết” tại chỗ, cầu thủ đá phạt không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác.
    2. Quả phạt trực tiếp:
    - Bóng đá trực tiếp vào cầu môn đối phương, bàn thắng được công nhận.
    - Nếu bóng đá trực tiếp vào cầu môn đội nhà, bàn thắng không được công nhận và đội đối phương được đá quả phạt góc.
    3. Quả phạt gián tiếp.
    - Ký hiệu: Trọng tài xác nhận quả gián tiếp bằng cách giơ tay lên cao và giữ nguyên tư thế đó cho đến khi quả phạt đã thực hiện, bóng đã chạm cầu thủ khác hoặc ra ngoài các đường giới hạn sân.
    - Bóng vào cầu môn:
    • Bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, đã chạm một cầu thủ khác.
    • Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương, đội đối phương được hưởng quả đá phát bóng.
    • Nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội nhà, đội đối phương được hưởng quả phạt góc.
    4. Vị trí đá phạt:
    - Quả phạt trong khu phạt đền:
    + Quả phạt trực tiếp hoặc gián tiếp của đội phòng ngự được hưởng:
    • Tất cả cầu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc, trừ trường hợp họ đã đứng trên đường cầu môn giữa 2 cột dọc.
    • Bóng vào cuộc khi được đá và di chuyển.
    • Nếu điểm phạm lỗi ở trong khu cầu môn, quả phạt gián tiếp được thực hiện trên đường song song với đường cầu môn tại nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
    - Quả phạt ngoài khu phạt đền.
    • Tất cả cầu thủ đối phương đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
    • Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển.
    • Quả phạt được thực hiện tại nơi xảy ra phạm lỗi.
    5. Xử phạt những vi phạm:
    a. Khi thực hiện quả phạt, cầu thủ đối phương không đứng cách xa bóng đủ 9m15:
    • Quả phạt được đá lại
    b. Khi thực hiện quả phạt trong khu vực phạt đền của đội mình, nếu bóng chưa trực tiếp vào cuộc (có nghĩa là chưa ra khỏi khu phạt đền):
    • Thực hiện lại quả phạt.
    c. Cầu thủ thực hiện quả phạt không phải thủ môn.
    Nếu sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ đá phạt tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi bóng chạm cầu thủ khác.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    d. Sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ đá phạt cố tình dùng tay chơi bóng trước khi có cầu thủ khác chạm bóng:
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt đền nếu lỗi xảy ra trong khu phạt đền của đội phạm lỗi.
    e. Thủ môn thực hiện quả phạt.
    + Nếu sau khi bóng vào cuộc thủ môn chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi cầu thủ khác chạm vào.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    + Sau khi bóng vào cuộc thủ môn cố tình chơi bóng bằng tay trước khi cầu thủ khác chạm bóng:
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp nếu lỗi xảy ra ngoài khu phạt đền của đội phạm lỗi. Quả phạt được thực hiện tại nơi phạm lỗi.
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi nếu vi phạm xảy ra trong khu phạt đền của đội phạm lỗi. Quả phạt được thực hiện tại nơi phạm lỗi.

    LUẬT XIV
    QUẢ PHẠT ĐỀN
    Đội bóng có cầu thủ phạm một trong 10 lỗi phạt trực tiếp mà vị trí phạm lỗi trong khu phạt đền của đội mình lúcc bóng đang trong cuộc, sẽ bị phạt quả phạt đền. Từ quả phạt đền, bóng trực tiếp vào cầu môn đội phạm lỗi sẽ được công nhận là bàn thắng hợp lệ. Khi có quả phạt đền ở phút cuối cùng của mỗi hiệp chính hoặc hiệp phụ, phải bù thêm thời gian để thực hiện xong quả phạt đền.
    1. Vị trí bóng và cầu thủ:
    a. Bóng: Được đặt ngay trên điểm phạt đền.
    b. Cầu thủ thực hiện quả phạt đền: Phải được thông báo rõ ràng.
    c. Thủ môn đội bị phạt: Đứng trên đường cầu môn trong khoảng giữa 2 cột dọc, mặt hướng về cầu thủ đá phạt, cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
    d. Các cầu thủ khác:
    - Đứng trong sân
    - Ngoài khu phạt đền.
    - Phía sau điểm phạt đền.
    - Cách xa điểm phạt đến tối thiểu 9m15.
    2. Trọng tài:
    - Chỉ thổi còi cho phép thực hiện quả phạt đền khi tất cả các cầu thủ đã đứng đúng vị trí theo yêu cầu của Luật.
    - Chỉ ra quyết định khi đã thực hiện xong quả phạt đền.
    3. Trình tự thực hiện quả phạt đền.
    - Cầu thủ thực hiện quả phạt đền phải đá bóng về phía trước.
    - Không được tiếp tục chạm bóng lần thứ 2 khi chưa có cầu thủ nào chạm vào bóng.
    - Bóng vào cuộc khi bóng được đá đi và di chuyển về phía trước.
    Khi quả phạt đền thực hiện trong 2 hiệp của trận đấu, trong suốt thời gian bù thêm để thực hiện lại quả phạt đền, bàn thắng được công nhận nếu trước khi vượt qua đường cầu môn giữa 2 cột dọc và phía dưới xà ngang: Bóng chạm các cột dọc hoặc xà ngang hoặc người thủ môn.
    4. Những vi phạm và xử phạt:
    • Khi trọng tài có hiệu còi để thực hiện quả phạt đền và trước khi bóng được đá vào cuộc nếu có xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
    a. Cầu thủ thực hiện quả phạt đền vi phạm Luật:
    - Trọng tài vẫn để thực hiện.
    - Nếu bóng vào cầu môn, cho thực hiện lại quả phạt.
    - Nếu bóng không vào cầu môn, không cho thực hiện lại quả phạt.
    b. Thủ môn vi phạm:
    - Trọng tài vẫn để thực hiện.
    - Bóng vào cầu môn, công nhận bàn thắng.
    - Bóng không vào cầu môn, cho thực hiện lại qủa phạt.
    c. Đồng đội của cầu thủ đá phạt chạy vào khu phạt đền hoặc đến gần điểm phạt đền hơn quy định:
    - Trọng tài vẫn để thực hiện.
    - Nếu bóng vào cầu môn, cho thực hiện lại quả phạt.
    - Nếu bóng không vào cầu môn, cột dọc, xà ngang rồi cầu thủ này chạm bóng, trọng tài dừng trận đấu, phạt cầu thủ đó quả gián tiếp cho đội bị phạt được hưởng.
    d. Đồng đội của thủ môn chạy vào khu phạt đền hoặc tiến hành đến điểm phạt đền gần hơn quy định.
    - Trọng tài vẫn để thực hiện.
    - Nếu bóng vào cầu môn, công nhận bàn thắng.
    - Nếu bóng vào cầu môn, thực hiện lại quả phạt.
    e. Cầu thủ cả 2 đội cùng vi phạm Luật:
    - Thực hiện lại quả phạt.
    f. Nếu sau khi quả phạt đền được thực hiện:
    + Cầu thủ thực hiện quả phạt chạm lại bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi có cầu thủ khác chạm bóng: Trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    + Cầu thủ thực hiện lại cố tình dùng tay chơi bóng trước khi có cầu thủ khác chạm bóng. Trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi.
    + Bóng đang di chuyển về phía trước bị “người lạ” chặn lại: Trọng tài cho thực hiện lại quả phạt.
    + Bóng bật người thủ môn, cột dọc, xà ngang trở lại sân và chạm “người lạ”: Trọng tài cho dừng trận đấu. Cho trận đấu tiếp tục bằng quả “thả bóng chạm đất” tại nơi “người lạ” chạm bóng.

    LUẬT XV
    NÉM BÓNG
    Ném biên là hình thức bắt đầu lại trận đấu. Từ quả ném biên trực tiếp vào cầu môn, bàn thắng không được công nhận.
    1. Được thực hiện quả ném biên khi:
    - Quả bóng đã hoàn toàn vượt qua khỏi đường biên dọc dù ở mặt sân hoặc trên không.
    - Vị trí ném biên tại nơi bóng vượt qua đường biên dọc.
    - Đối phương của cầu thủ chạm bóng cuối cùng được quyền thực hiện quả ném biên.
    2. Thực hiện quả ném biên: Khi thực hiện động tác ném biên, cầu thủ phải:
    - Quay mặt vào trong sân.
    - Có thể dẫm một phần chân lên biên dọc hoặc đứng hẳn ra ngoài đường biên dọc.
    - Dùng lực đều cả 2 tay.
    - Ném bóng từ phía sau liên tục, qua đầu. Cầu thủ ném biên không được chạm bóng lần nữa nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác. Bóng trong cuộc ngay sau khi vào trong sân.

    3. Những vi phạm và xử phạt:
    a. Cầu thủ thực hiện quả ném biên không phải là thủ môn:
    Nếu sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ ném biên lại chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi bóng một cầu thủ khác:
    + Cầu thủ đó bị phạt quả gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi phạm lỗi.
    b. Nếu cầu thủ sau khi ném bóng vào cuộc lại cố tình dùng tay chơi bóng trước khi bóng chạm một cầu thủ khác:
    + Phạt quả trực tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi phạm lỗi.
    + Quả phạt đền nếu vị trí phạm lỗi ở trong khu phạt đền của đội phạm lỗi.
    c. Nếu thủ môn sau khi ném bóng vào cuộc lại chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay), trước khi bóng chạm một cầu thủ khác:
    + Phạt quả gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại vị trí phạm lỗi.
    d. Nếu thủ môn sau khi ném bóng vào cuộc lại cố tình dùng tay chơi bóng lần nữa trước khi bóng chạm một cầu thủ khác:
    + Vị trí phạm lỗi ở ngoài khu phạt đền sẽ phạt quả trực tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi phạm lỗi.
    + Vị trí phạm lỗi ở trong khu phạt đền sẽ phạt quả gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại vị trí phạm lỗi.
    e. Nếu đối phương có hành vi khiểm nhã hoặc ngăn cản cầu thủ ném biên:
    + Cầu thủ đó bị coi là có hành vi khiếm nhã và nhận thẻ vàng.
    f. Đối với những vi phạm khác:
    + Quyền ném biên được chuyển cho đội đối phương.


    LUẬT XVI
    QUẢ PHÁT BÓNG
    Qủa phát bóng là một hình thức bắt đầu lại trận đấu. Từ quả phát bóng trực tiếp vào cầu môn đội đối phương, bàn thắng được công nhận.
    1. Quả phát bóng được thực hiện khi: Bóng đã hoàn toàn vượt qua hẳn đường biên ngang phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt đất hay trên không, do người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội tấn công.
    2. Quá trình thực hiện:
    - Bóng được đặt tại bất kỳ điểm nào trong khu cầu môn của đội phòng thủ.
    - Cầu thủ đối phương phải đứng ngoài khu phạt đền đến khi bóng được đá vào cuộc.
    - Cầu thủ đá phạt bóng không được chạm bóng tiếp lần thứ 2 khi bóng chưa chạm cầu thủ khác.
    - Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá trực tiếp ra ngoài khu phạt đền.
    3. Những vi phạm và xử phạt:
    a. Nếu bóng không được đá trực tiếp ra khỏi khu phạt đền.
    - Đá lại quả phát bóng.
    b. Quả phát bóng do cầu thủ (không phải thủ môn) thực hiện.
    - Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, cầu thủ đó lại chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi bóng chạm một cầu thủ khác:
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    - Nếu sau khi bóng được đá vào cuộc, cầu thủ đó lại cố tình dùng tay chơi bóng lần thứ 2 trước khi bóng chạm cầu thủ khác:
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi.
    + Khi vị trí phạm lỗi xảy ra trong khu phạt đền của đội phạm lỗi, đội đối phương được hưởng quả phạt đền.
    c. Quả phát bóng do thủ môn thực hiện.
    - Nếu sau khi bóng được đá vào cuộc, thủ môn lại chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi bóng chạm cầu thủ khác:
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    - Nếu sau khi bóng được đá vào cuộc, thủ môn cố tình dùng tay chơi bóng trước khi bóng chạm cầu thủ khác:
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi, khi hành động phạm lỗi xảy ra ở ngoài khu phạt đền.
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi, khi hành động phạm lỗi xảy ra ở trong khu phạt đền.
    d. Đối với bất kỳ vi phạm Luật khác:
    - Quả phát bóng được thực hiện lại.
    LUẬT XVII
    QUẢ PHẠT GÓC
    Qủa phạt góc là một hình thức bắt đầu lại trận đấu. Bóng từ quả phạt góc trực tiếp vào cầu môn đội đối phương bàn thắng được công nhận.
    1. Quả phạt góc được thực hiện khi:
    Quả bóng đã hoàn toàn vượt qua hẳn đường biên ngang phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt đất hay trên không, do người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội phòng ngự.
    2. Quá trình thực hiện:
    - Bóng đặt trong cung đá phạt góc tại điểm gần cột cờ góc nhất.
    - Không được di chuyển cột cờ góc.
    - Cầu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 đến khi bóng được đá vào cuộc.
    - Người đá phạt góc là cầu thủ của đội tấn công.
    - Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển.
    - Cầu thủ đá phạt góc không được chạm bóng lần thứ 2 khi bóng chưa chạm cầu thủ khác.

    3. Những vi phạm và xử phạt:
    a. Cầu thủ đá phạt góc không phải là thủ môn:
    - Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, cầu thủ đó lại chạm bóng tiếp lần thứ 2 (không phải bằng tay) khi bóng chưa chạm cầu thủ khác:
    + Đội phòng ngự được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
    - Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, cầu thủ đó lại cố tình dùng tay chơi bóng khi bóng chưa chạm cầu thủ khác:
    + Đội phòng thủ được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi.
    + Đội phòng thủ sẽ được hưởng quả phạt đền nếu vị trí phạm lỗi ở trong khu phạt đền của cầu thủ đó.
    b. Cầu thủ đá phạt góc là thủ môn.
    Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, thủ môn lại chạm bóng (không phải bằng tay) lần thứ 2 khi bóng chưa chạm một cầu thủ khác:
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi. Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, thủ môn lại cố tình dùng tay chơi bóng khi bóng chưa chạm cầu thủ khác:
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi nếu hành vi phạm lỗi xảy ra ở ngoài khu phạt đền của thủ môn đó.
    + Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi, nếu hành động phạm lỗi xảy ra trong khu phạt đền của thủ môn đó.
    c. Đối với bất kỳ vi phạm Luật khác:
    - Thực hiện lại quả phạt góc.

+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 1/3 1 2 3 cuốicuối

Chủ đề tương tự

  1. Các sơ đồ chiến thuật phổ biến trong bóng đá
    By Nouvo_RC in forum Hà Nội Zero..Forza Club(BK9)
    Trả lời: 5
    Bài mới nhất: 26-06-2010, 09:42 PM
  2. Hướng dẫn kỹ thuật bóng đá: Phòng ngự
    By vnn in forum Các kỹ thuật đá bóng
    Trả lời: 8
    Bài mới nhất: 28-10-2009, 06:00 PM
  3. Trả lời: 14
    Bài mới nhất: 06-12-2008, 04:57 PM
  4. Nghệ thuật và Bóng đá
    By Quyetay in forum Video Clip hay
    Trả lời: 10
    Bài mới nhất: 11-08-2008, 10:58 PM
  5. Thuật ngữ cá độ bóng đá
    By yreporter in forum Euro 2008
    Trả lời: 3
    Bài mới nhất: 24-06-2008, 02:25 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts